• Chào mừng bạn Khách đến với diễn đàn, chúc bạn vui vẻ sinh hoạt cùng cộng đồng Vietpet.
    Diễn đàn đã có sẵn cơ sở dữ liệu tương đối lớn về các vấn đề thường gặp như thú y, huấn luyện, chăm sóc thú cưng..., bạn Khách vui lòng tìm đọc kỹ trước khi gửi câu hỏi.
    Lưu ý: Diễn đàn không chấp nhận ngôn ngữ chat, bài viết không có nội dung ( bài spam).

Chó Ngao Tây Tạng (tiểu thuyết)

ohcuey

Member
Tối hôm đó, trong tăng xá của chùa Chia-cu Tây, như thường lệ, cha tôi ngủ rất sớm. Trời vừa tối ông đã lên kháng, nhưng không tài nào chợp mắt được. Ông nghĩ mình là phóng viên mới chân ướt chân ráo đến thảo nguyên Chinh-cô-ama đã thành thương binh, chẳng lấy được mẩu tin, viết được bài báo nào. Dù toà soạn không giục nhưng cũng không thể cứ dây dưa mãi thế này được. Ngày mai phải rời chùa Chia-cu Tây đến thảo nguyên, đến các bộ lạc, đến nhà bạt của tù trưởng mới được. Ông cảm thấy mình đã giành được thiện cảm của các vị tăng lữ trong chùa, lại học được kha khá tiếng Tạng với lạt ma gậy sắt Tạng Cha-xi, cũng ít nhiều hiểu được tôn giáo ở thảo nguyên, những công việc tiếp theo chắc sẽ dễ dàng hơn.

Đang nghĩ bỗng cha tôi nghe tiếng động dưới đất. Ông châm đèn, buộc miệng kêu: “Na-rư!” Con Ngao đen Na-rư hôm qua chỉ nhích được mấy bước, thế mà hôm nay đã đi lại được khắp phòng. Na-rư nghẹo đầu dùng con mắt bên phải không bị thương nhìn cha tôi, rồi đến hếch môi chà chà vào đùi ông. Sau đó nó đi đến cửa, dùng đầu hẩy cửa mãi. Cha tôi xuống giường đến xoa xoa lông nó: “Mày muốn gì? Muốn ra ngoài à?” Nó khàn khàn gừ 1 tiếng coi như câu trả lời. Cha tôi mở cửa ra. Nó cẩn thận bước qua bục, đứng ở cửa sủa mấy tiếng. Vì vết thương ở bụng chưa khỏi hẳn nên nó không sủa to được. Tuy tiếng sủa nhỏ, nhưng chó ở gần đó đều nghe thấy cả. Chúng cũng sủa lại, rồi chó trong chùa cũng sủa theo. Đây là lời chào, 1 sự thoả thuận, 1 thứ ám hiệu. Khi bầy chó chào hỏi xong, mọi thứ lại rơi vào yên tĩnh. Na-rư quay lại nhìn cha tôi 1 cái, tiến về đằng trước rồi mệt mỏi nằm xuống cạnh bức tường đá khắc kinh Ma-ni sáng như gương trong đêm tối. Cha tôi đến gần hỏi: “Sao thế? Sao lại nằm ở đây?” Lúc đó cha tôi còn chưa biết con Ngao đen Na-rư là chó lãnh địa, chỉ cần đi lại được, nó không bao giờ chịu ở trong nhà. Đó là bản năng, là sự trung thành với chức trách của mình.Tất cả những con chó lãnh địa và những con Ngao Tạng đều là những kẻ ngang tàng, tung hoành 4 phương, đã quen với đêm tối gió lộng, quen với việc phi như tên bắn và gầm thét như sấm.

Cha tôi trở về tăng xá. Nghe động, con Cang-rư-sân-cơ ngẩng đầu lên, dáng như muốn gượng dậy, nhưng không gượng dậy nổi. Cha tôi ngồi xuống bên cạnh nó, hỏi nó muốn gì. Nó chớp chớp mắt, kêu ư ử như cún con. Đầu nó càng ngẩng cao hơn. Cha tôi chăm chú quan sát, hiểu con Cang-rư-sân-cơ muốn cha tôi dìu nó đứng dậy. Ông liền dịch đến sau lưng nó, cố hết sức đỡ nó dậy. Nó đứng dậy rồi, 4 chân đứng vững trên mặt đất rồi, nhưng khi cha tôi thử buông tay ra, nó lại uỵch ngay xuống. Cha tôi vỗ về: “Chưa được đâu. Chú mày cứ nằm yên đấy, còn phải nghỉ dưỡng thêm vài ngày nữa.” Cang-rư-sân-cơ không nghe, đầu nó vẫn ngẩng cao, nhìn cha tôi với ánh mắt thúc giục và nài xin được trợ giúp lần nữa. Cha tôi lại xốc nó dậy, cố hết sức đỡ nó. 4 chân nó cuối cùng đã đứng vững, nhưng cha tôi không dám buông nó ra, cứ thế đỡ mãi.

Cang-rư-sân-cơ giơ 1 chân trước gập lại, rồi giơ chân kia gập lại. Nó lần lượt thử 2 chân sau như vậy. Ồ, khá lắm, vẫn chưa gãy xương. Dường như nó hiểu ra, nó thả dần từng tí một chân trước ra, rồi cũng làm như vậy với chân sau. Cha tôi thấy nó làm vậy hiểu ngay là nó muốn tự mình đứng không cần ông đỡ. Cha tôi nghi ngại hỏi: “Chú mày có đứng được không đấy?” Sau đó cha tôi dần dần thả 1 tay ra, rồi thả nốt tay kia. Cang-rư-sân-cơ vẫn đứng. Đã tự đứng được tức là không ngã xuống. Không ngã xuống tức là có thể tiến lên phía trước, tiếp tục bước những bước đi hùng mạnh dũng mãnh. Cang-rư-sân-cơ mãi mãi không bao giờ quên, bước chân đầu tiên tiến lên phía trước của nó là cha tôi giúp. Nó nhìn cha tôi, đôi mắt đầy cảm kích ươn ướt.

Cha tôi lại đỡ lấy nó, lần này vừa đỡ vừa đẩy nó đi. Nó bước 1 bước ngắn, rất ngắn về phía trước, rồi lại thêm 1 bước nữa. Những bước tiếp theo vẫn rất ngắn, nhưng là những bước nó tự đi. Cha tôi khẽ thả tay ra, không đỡ, cũng không đẩy nó nữa. Nó đi chầm chậm. Thân hình to lớn của nó cử động chậm chạp. Cha tôi động viên: “Đúng, cứ như thế, tiến về phía trước.” Ông vừa nói vừa lùi ra sau rất nhanh, ngồi phệt lên kháng. Con Cang-rư-sân-cơ mất đi sự dựa dẫm về tâm lý, nó lắc lư sắp ngã. Cha tôi kêu lên: “Hãy kiên trì, sư tử núi tuyết, phải kiên trì.” Cang-rư-sân-cơ hiểu điều cha tôi nói. Nó cố hết sức lên gân 4 chân, cố giữ thăng bằng cả thân hình đang lắc lư. Nó không ngã xuống, cuối cùng nó không ngã. Mấy giây, rồi mấy phút trôi qua, nó vẫn không ngã. Vẫn đứng đấy 1 cách uy phong lẫm liệt.

Con Cang-rư-sân-cơ không ngã xuống nữa. Nó đứng như vậy, thỉnh thoảng đi chầm chậm vài bước, nhưng chủ yếu vẫn là đứng. Đến tận sua nửa đêm, khi cha tôi ngủ thiếp đi, bỗng nghe thấy tiếng “u…u…” như trẻ con khóc của Cang-rư-sân-cơ. Nó vừa khóc nức nở vừa dựa vào bức tường gần cửa.
Lúc này cha tôi cũng nghe thấy con Ngao đen Na-rư sủa “gâu gâu”. Tuy tiếng sủa của nó vẫn còn rất nhỏ, nhưng cũng có được sự hưởng ứng của những con chó khác. Rất nhanh, tất cả chó trong chùa cùng sủa lên inh ỏi.

Cha tôi bước xuống kháng, thò đầu ra cửa nhìn màn đêm đen như mực. Ông khẽ gọi: “Na-rư, Na-rư!” Con Na-rư quay đầu lại khẽ sủa đáp lại. Cha tôi hỏi: “Na-rư sủa gì đấy? Đừng sủa ầm lên để các vị lạt ma còn ngủ chứ. Ngay mai các vị ấy còn phải đọc kinh đấy.” Nhưng ngày ở chùa Chia-cu Tây, đây là lần đầu tiên cha tôi nghe thấy nửa đêm có nhiều chó sủa như vậy. Con Ngao đen Na-rư không nghe lời cha tôi vẫn bướng bỉnh sủa ầm lên. Tiếng sủa ngày càng khàn, càng sủa càng yếu. Cha tôi trở về ngồi trên kháng không tài nào ngủ lại được nữa.

Rồi dần dần không còn nghe thấy tiếng Na-rư sủa nữa, rồi tiếng của đàn chó khác cũng dần lẻ tẻ rồi im bặt. Gió về đêm phảng phất tiếng ai đó cố hạ giọng đang đọc: “Ma-ha-cơ-la-pân-sân-pao…” như 1 câu thần chú huyền bí. Trong ánh đèn dầu gần tắt lúc mờ lúc tỏ, cha tôi thấy cái bóng của mình rùng 1 cái, bóng của Cang-rư-sân-cơ cũng rùng 1 cái. Tiếp đó cho tôi nghe thấy tiếng khóc nấc u…u… của Cang-rư-sân-cơ. Nó vẫn dựa ở bức tường cạnh cửa. Tiếng khóc u…u… của nó khiến câu thần chú “Ma-ha-cơ-la-pân-sân-pao” lại xuất hiện. Cha tôi bỗng nhớ ra đó chính là tiếng ông đã nghe hôm chân ướt chân ráo đến thảo nguyên Chia-cu Tây, khi 7 đứa trẻ chạy trốn thục mạng đã đọc: “Ma-ha-cơ-la-pân-sân-pao! Ma-ha-cơ-la-pân-sân-pao!”

Không hiểu sao trong lòng cha tôi có cái gì đó trào dâng lên. Ông nhảy xuống kháng, từ cửa sổ nhìn ra ngoài, thấy 1 hàng dài bóng người, cúi gập men theo tường đá khắc kinh Ma-ni, đi về hướng tăng xá.
 

ohcuey

Member
Mây-tô-la-mu theo 3 con chó chăn cừu đến trước nhà bạt của Cung-pu, láng giếng già Ni-ma, rồi lại theo chúng đi theo đường mòn trên núi đến những nhà vọng gác trên dốc núi. Cô với 3 con chó dừng lại 6 lần trước 6 cái nhà vọng gác. Mỗi lần dừng lại, Mây-tô-la-mu đều gọi to “Pa-ơ-chiu-chu! Pa-ơ-chiu-chu!”. Nghe cô gọi như vậy, 3 con chó chăn cừu biết cô phải tìm bằng được Pa-ơ-chiu-chu, lại dẫn cô xuống 1 con đường khác, rồi đến thảo nguyên. Chúng dẫn đi con đường này khiến Mây-tô-la-mu hiểu ra ngay, Pa-ơ-chiu-chu đã đi gọi 6 đứa trẻ, thêm vào nó là 7, chúng cùng đi thực hiện lời nói của Pa-ơ-chiu-chu: để 7 cục *** khô của thảo nguyên Ama Thượng chết trong tay 7 anh hùng hảo hán của Chia-cu Tây. Cuộc chiến sống còn 1 chọi 1 sắp mở màn. Mây-tô-la-mu nói với 3 con chó căn cừu: “Ca-pao-sân-cơ, Sa-chia-sân-cơ, Chi-ông-pao-sân-cơ, chúng mày bảo ta phải làm gì mây giờ?” Câu trả lời của 3 con chó chăn cừu là nhanh chóng đi tiếp về phía trước. Chỉ cần Mây-tô-la-mu không bảo chúng về thì chúng sẽ tìm bằng được.

Mây-tô-la-mu theo sau 3 con chó chăn cừu, thở không ra hơi. Cô luôn gọi: “Đợi ta với, đợi ta với”. Cuối cùng thì chúng cũng dừng lại. Mây-tô-la-mu phát hiện ra chúng dẫn cô đến chỗ mà 7 đứa trẻ Ama Thượng đã dùng đá u-tô văng vào Pa-ơ-chiu-chu.

Mây-tô-la-mu rùng mình. Bỗng cô thấy sợ hãi, hối hận. Nửa đêm mình đến đây làm gì? Cô nghĩ đến chuyện xảy ra ban ngày: 3 con báo kim tiền dũng mãnh tấn công cô. Nếu không phải mấy con Ngao Tạng dưới sự chỉ huy của Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao đã xả thân thì cô và Lý Ni-ma đã không còn mạng nữa. Cô như tìm chỗ dựa, vuốt vuốt 3 con chó chăn cừu đang đứng bên cạnh rồi nói: “Thôi, ta về thôi!”

3 con chó chăn cừu đứng bên này nhìn sang bên kia sông ra sức sủa. Chúng biết rõ Pa-ơ-chiu-chu không ở đây. Nó đã lội qua sông Dã-la sang bên kia, cùng với 6 đứa trẻ và đàn chó lãnh địa. 3 con chó chăn cừu không qua sông vì biết mục tiêu tìm kiếm của chúng đã qua sông, nhưng chúng cũng biết rồi bọn Pa-ơ-chiu-chu sẽ quay về đường cũ, vì gió báo cho 3 con chó chăn cừu biết mục tiêu của bọn Pa-ơ-chiu-chu đang đuổi, 7 đứa trẻ Ama Thượng chưa đi xa. Mục tiêu đó qua sông rồi lại lộn về, nghĩa là 7 đứa trẻ Ama Thượng lại quay về, tìm đến núi vọng gác của Chia-cu Tây.

3 con chó chăn cừu vừa sủa vừa ngẩng cao đầu nhìn Mây-tô-la-mu. Cô nói: “Thôi, chúng ta về thôi. Không tìm Pa-ơ-chiu-chu nữa.” Thấy chúng bướng bỉnh đứng yên, cô lại nói: “Thế thì mau tìm đi. Tìm thấy thì ta về ngay. Ở đây nguy hiểm lắm.” Nói xong cô cúi xuống lấy tay khua khua dòng nước đang chảy xiếc trong đêm tối. Chưa chắc mình đã dám lội qua sông, mà có dám cũng không biết có qua được không. Thông thường sông Dã-la có thể lội qua được, nhưng nước ở đây nông sâu thế nào? Phải chăng đoạn sông này chỉ đến đầu gối? Cô lại nghĩ, hay là để 1 con chó cùng cô đợi bên này, 2 con đi tìm Pa-ơ-chiu-chu. Chó bơi giỏi hơn cô. Cô tin rằng 2 con Ngao Tạng thông minh sẽ truyền đạt được ý nghĩ của cô đến thằng bé. Cô cũng tin rằng chỉ cần Pa-ơ-chiu-chu nhìn thấy chó của già Ni-ma sẽ biết ngay là cô Mây-tô-la-mu đang tìm nó, phải về ngay.

Cô ra hiệu: “San-chia-sân-cơ, Chi-ông-pao-sân-cơ, sang sông đi, ta và Ca-pao-sân-cơ đợi bên này.” Nhưng 2 con không nghe lời cô, không những không qua sông, trái lại còn vòng ra sau lưng cô, cảnh giác nhìn về thảo nguyên bao phủ màn đêm. Cô cúi xuống đẩy chúng, nhưng không tài nào đẩy nổi. Cô giận hờn nói: “Sao chúng mày không nghe lời ta nữa?” Trả lời cô là những tiếng sủa như sấm vang của 3 con chó chăn cừu cùng hướng về 1 chỗ. Tiếng sủa đầy uy lực vang dội cả thảo nguyên mênh mông.

1 tiếng sói hú thê thảm rùng rợn phá tan màn đêm yên tĩnh. Mây-tô-la-mu như bị 1 hòn đá rơi trúng đầu, đầu óc quay cuồng, bất giác rùng mình. Tim cô thắt lại: Nguy rồi, sáng thì gặp báo, tối thì gặp sói. Sói là gì nhỉ? Khái niệm của cô về sói là loài động vật thích ăn thịt người, kiểu ăn thịt người không ngại máu tanh còn hơn cả báo. Từ ngày cô đến thảo nguyên, không chỉ 1 lần nghe tiếng sói tru. Có lúc nữa đêm nằm trong nhà bạt không ngủ được, nghe thấy sói hú. Cái âm thanh nhọn sắc như ai oán khóc than khiến cô có 1 cảm giác khó tả. Nhưng cô chưa bao giờ nghe thấy sói hú trên thảo nguyên mênh mông không bóng người. Bây giờ nghe thấy tiếng hú, cô không còn cái cảm giác xúc động như vẫn có mà là cảm giác run bần bật.

Mây-tô-la-mu run rẩy ngồi xuống, ôm chặt lấy con chó chăn cừu Ca-pao-sân-cơ. Nó là con chó cô yêu quý và tin tưởng nhất. 2 mắt sợ hãi mở to nhìn về phía trước. Nhưng con sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ không thích cử chỉ ấy của cô lúc này. Nó vùng khỏi tay cô, đi về phía trước mấy bước, tiếp tục sủa dữ dội. Bỗng nhiên con Ca-pao-sân-cơ chạy quanh Mây-tô-la-mu 1 vòng, sau đó phi như tên bắn về phíc trước. Tiếp theo con sư tử mới San-chia-sân-cơ và sư tử chim ưng Chi-ông-pao-sân-cơ đều chạy theo. Chỉ nghe thấy soạt đã không còn thấy bóng chúng đâu. Mây-tô-la-mu chỉ thấy trước mắt mình 1 màn đêm dày đặc và nỗi cô độc đáng sợ của thảo nguyên. Chó đâu? Mấy con chó chăn cừu to lớn kia đâu? 3 con Ngao Tạng dẫn dắt và bảo vệ cô đâu rồi? Cô gọi to: “Ca-pao-sân-cơ, San-chia-sân-cơ, Chi-ông-pao-sân-cơ…” Gọi được mấy tiếng cô hiểu ngay là có gọi rát họng cũng bằng không. Gió thổi từ trước mặt lại, tiếng gọi của cô bị gió đưa về phía sông Dã-la phía sau lưng.

Mây-tô-la-mu run cầm cập đi về hướng có tiếng chó sủa. Như người lạc đường trong đêm tối, chân thấp chân cao mò mẫm tìm ánh sao. Rất nhanh cô phát hiện ra đón mình không phải là niềm hy vọng mà là sự sợ hãi tận cùng.

Sự sợ hãi không phải vì cô không nghe thấy tiếng sủa của 3 con chó chăn cừu nữa, mà là vì cô nhìn thấy những ánh mắt xanh như ánh ma trơi. Những đốm đó tiến đến gần cô. Mới đầu là 2 đốm, sau là 4 đốm, rồi 6 đốm, 8 đốm, 12 đốm. Mây-tô-la-mu chưa hề thấy sói trong đêm tối, cũng chưa từng thấy những đôi mắt xanh lè như ma trơi lúc ẩn lúc hiện trong màn đêm thảo nguyên. Nhưng cô ý thức được rằng: Sói đến rồi. Không phải 1 con mà là 1 bầy, ít nhất 6 con. Cô kêu to: “Cứu tôi với!”
 

ohcuey

Member
Đêm hôm đó, 5 con sói lớn và 3 con sói con phát hiện thấy 3 con chó chăn cừu đi cùng 1 cô gái. Đấy là 1 gia tộc sói, trưởng tộc là 1 con sói cái. Chúng thấy lạ lắm. Đêm hôm khuya khoắt sao trên thảo nguyên lại xuất hiện một cô gái không phải người chăn cừu và 3 con chó chăn cừu to lớn? Nửa đêm họ đến đây làm gì? Hình như không phải vì nhu cầu săn mồi mà là do tính hiếu kỳ khiến đại gia tộc sói cái này theo chân họ từ xa. Chúng theo chân họ đến 2 tiếng. Nhưng gì thì gì, cơn đói cồn cào vẫn thúc giục chúng nhiều hơn là lòng hiếu kỳ. Chúng hiểu rất rõ, 1 cô gái đương nhiên không phải đối thủ của chúng, nhưng cộng thêm 3 con chó chăn cừu giống Ngao Tạng thì không phải gia tộc sói cái gồm 5 con sói to và 3 con sói nhỏ này có thể đối phó nổi. Chúng hú mấy tiếng như gửi lời chào tạm biệt định quay lưng bỏ đi. Vừa lúc chúng thấy xa xa theo chân cô gái và 3 con chó chăn cừu còn có 1 đứa bé. Chộp được đứa bé đối với chúng là việc dễ dàng, nhưng đứa trẻ đã bị 1 gia tộc sói khác mà trưởng tộc là 1 con sói đực theo dõi từ lâu rồi. 2 gia tộc sói này vốn quen biết nhau. Mùa đông thức ăn khan hiếm, chúng thường săn mồi cùng nhau. Đến mùa hè các gia tộc sói tách ra kiếm ăn riêng lẻ. Nhưng có tách cũng không phải tách hẳn, có lúc chúng cũng hợp tác với nhau, ví dụ như đêm nay. 2 con sói này không cần nói mà hiểu ngay nên hợp sức lại cùng đối phó. Chúng thương lượng với nhau rồi chia ra thành 2 mũi tấn công dưới sự dẫn dắt của 2 vị trưởng tộc. Thế là gia tộc sói đực gồm 4 sói lớn và 2 sói con vòng qua đứa trẻ, đi chếch về phía trước. Gia tộc sói cái từ nãy giờ vẫn theo chân cô gái và 3 con chó chăn cừu thì lặng lẽ mở vòng bao vây thằng bé.

Thằng bé này chính là Nua-bu, con trai 7 tuổi của Pan-chi-ô. Nó cho rằng mình đường đường là 1 đấng nam nhi, phải dũng cảm như những con Ngao Tạng, dấn thân vào đêm tối bí ẩn để bảo vệ chị nó Mây-tô-la-mu. Nó lặng lẽ theo sau cô từ nhà đến núi vọng gác, rồi theo đến tận đây. Đây là thảo nguyên mà cha nó thường đưa nó đến chăn cừu, cũng là nơi bầy sói hay xuất hiện. Bây giờ Nua-bu đã thấy bầy sói. Những con mắt sói xanh lè nhấp nháy dàn thành hàng ngang. Nua-bu biết chúng cũng đã nhìn thấy nó rồi. Nó khựng lại ngẩn người ra nhìn, không biết phải làm gì.

Gia tộc sói cái chưa vội vồ ngay Nua-bu, vì bầy sói hiểu không những phải ăn thịt thằng bé, mà con phải ăn thịt cả cô gái kia nữa, nếu không sói thì nhiều mà thịt thì ít, chúng sẽ tranh giành cắn xé nhau. Mưu kế của chúng là lợi dụng thằng bé làm mồi dụ 3 con chó to đến. Đợi cho 3 con chó chăn cừu đến, gia tộc sói cái sẽ dùng tiếng hú báo cho gia tộc sói đực biết để vồ cắn cô gái. Cô gái ắt sẽ kêu cứu. Tiếng kêu sẽ kéo 3 con chó chăn cừu về. Khi chúng về tới nơi chỉ còn thấy xác cô gái nằm đó thôi. Lúc này thừa cơ gia tộc soi cái sẽ ra tay với thằng bé. 3 con chó chăn cừu chắc chắn sẽ quay lại. Nếu chúng nhanh chân thì sẽ thấy được xác thằng bé, nếu chậm chạp thì chỉ còn thấy những vệt máu loang lổ trên bãi cỏ thôi. 8 con sói của gia tộc sói cảnh giác nhìn quanh, đợi 3 con chó chăn cừu đến.

Trên thảo nguyên chỉ có Ngao Tạng là mối đe doạ đối với sói hoang. Ưu thế của Ngao Tạng là thân hình to cao, oai phong dũng mãnh. Nếu cũng như loài người đánh 1 chọi 1 thì dù là sói đầu đàn hung ác nhất cũng không phải đối thủ của Ngao Tạng. Hơn nữa Ngao Tạng con nào cũng coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Đối mặt với bầy sói, những con Ngao Tạng không bao giờ biết nhường nhịn, chạy trốn. Còn ưu thế của sói biểu hiện ở chỗ sức gắn kết và uy hiếp khi cả đàn cùng tấn công. Khi chúng đối chọi với Ngao Tạng thường là cả đàn đối phó 1 con hoặc vài con. Điều quan trọng hơn là sự nham hiểm, xảo trá đối với kẻ địch và trí thông minh để bảo vệ bản thân mình của sói vượt xa khả năng hiểu biết của những con Ngao Tạng tầm thường. Ví dụ như lúc này, khi chúng bày mưu lợi dụng Nua-bu để nhử 3 con chó chăn cừu đến. Quả nhiên chúng đã nhử được 3 con chó chạy đến. Gia tộc sói cái vừa lùi về phía sau vừa hú dài, báo cho gia tộc sói đực bên kia biết thời cơ đã đến, mau mau hạ thủ cô gái.

3 con chó chăn cừu từ xa đã đánh hơi thấy mùi của sói và chủ nhân bé nhỏ Nua-bu của chúng. Sự pha trộn của 2 thứ mùi này chứng tỏ bầy sói đã đến rất gần Nua-bu, gần lắm rồi. Sự nguy hiểm sắp xảy ra tức thời. Chúng gầm lên để uy hiếp bầy sói và chạy như bay đến. Thấy Nua-bu vẫn an toàn, chúng xông thẳng vào bầy sói.

5 con sói lớn và 3 con sói con của gia tộc sói cái tăng tốc rút lui. Đội hình thay đổi từ 3 sói con đi trước, 5 sói lớn chặn hậu trở thành 1 sói lớn đi trước, 3 sói con ở giữa, 4 sói lớn chặn hậu. Con sói lớn đi trước dẫn đầu cuộc rút lui chính là con sói cái đầu đàn. Nó chạy trước để điều khiển tốc độ. Chúng không được phép chạy quá nhanh, rời con mồi quá xa, như vậy sẽ tiêu hao sức lực vô ích; cũng không được để bầy chó đuổi kịp, hình thành cục diện đối mặt vật lộn cắn giết nhau. Đối với loài sói, chúng luôn ý thức rõ ràng rằng: mục đích cuối cùng của chúng là săn mồi ăn thịt chứ không phải vật lộn giết nhau. Mà mục đích săn mồi ăn thịt là để bảo vệ sự sinh tồn của chúng. Vì mục đích căn bảo “bảo vệ thân mình” này, nếu có thể không cần vật lộn cắn xé chúng sẽ không vật lộn cắn xé. Đặc biệt là khi đối mặt với Ngao Tạng, thái độ của chúng càng trở nên thận trọng, chú ý tới hiệu quả và lợi ích thiết thực, không bao giờ tham mồi mà để xảy ra bất kỳ 1 hành động huyễn hoặc nào. Nhưng Ngao Tạng lại khác. Ý nghĩa sinh tồn của những con Ngao Tạng vĩnh viễn vượt qua bất kỳ mục đích công danh lợi lộc nào, bao gồm cả thức ăn. Chúng vật lộn với bầy sói, với người lạ bằng tất cả tâm sức của mình hoàn toàn không phải vì muốn ăn thịt, thậm chí hoàn toàn không có bất kỳ mối liên quan gì đến sự sinh tồn và no đủ, mà vì sự trung thành, trọng nghĩa trọng tình với loài người (nói chính xác là với chủ của chúng), vì sự an toàn của túp nhà bạt và lãnh địa chúng phải bảo vệ, giống như quân đội của 1 quốc gia vậy. Chính vì vậy, đối với Ngao Tạng, chiến đấu với kẻ địch và giành thắng lợi là mục đích duy nhất của chúng.

3 con chó chăn cừu truy đuổi đến cùng khiến khoảng cách giữa chúng và gia tộc sói cái càng lúc càng gần. Đội hình của gia tộc sói cái lại có sự thay đổi. Con dẫn đầu đổi thành 1 con sói cái khác. Con đầu đàn đổi ra chạy sau 3 con sói con. Là mẹ của bầy sói con, nhiệm vụ chính của nó bây giờ là bảo vệ con nó và thúc chúng chạy thật nhanh. Sau con sói cái đầu đàn là 3 con sói đực. Chúng dàn thành hàng ngang, chuẩn bị sẵn sàng vật lộn với 3 con Ngao Tạng. Tốc độc chạy trốn của gia tộc sói cái tăng nhanh thấy rõ, song khoảng cách giữa sói và Ngao Tạng vẫn bị rút ngắn. 4 chân như có đàn hồi của sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ khiến nó chạy như lốc cuốn. Con sư tử mới San-chia-sân-cơ chạy ở cánh phải như màn đêm dày đặc lặng lẽ phủ xuống. Còn sư tử chim ưng Chi-ông-pao-sân-cơ chạy ở cánh trái trở thành 1 con chim ưng thực sự sải cánh sà tới. Gia tộc sói cái vì 3 con sói con đành phải cam chịu khoảng cách giữa chúng và những con Ngao Tạng bị thu ngắn. Dường như sự cam chịu đó đối với thiên tính của Ngao Tạng là 1 sự khiêu khích. 3 con chó chăn cừu nổi nóng đùng đùng, răng chúng sắp chạm vào đuôi sói rồi. 3 con sói đực yêm hộ phía sau bỗng quay ngoắt người, dẫn kẻ truy kích chạy về 1 hướng khác. Chúng càng chạy càng nhanh, thế là con sói đầu đàn và 3 con sói con an toàn thoát hiểm.

Rốt cuộc theo đúng ý tưởng ban đầu của bầy sói, quả nhiên nghe tiếng kêu cứu của cô gái: “Cứu tôi với!” 3 con chó chăn cừu chững lại, tốc độ đuổi giảm đi. Chó chậm thì sói cũng chậm. Trong suy nghĩ của bầy sói, chỉ cần cô gái kêu cứu, 3 con chó chăn cừu nhất định sẽ bỏ thằng bé Nua-bu để quay lại. Chớp mắt thằng bé sẽ rơi vào nanh vuốt chúng. Những con sói đang chạy trốn đều dừng lại nhìn mấy con chó chăn cừu, chờ đợi thời khắc đối phương từ bỏ sự truy kích. Nhưng chúng không thấy gì, mưu đồ giương đông kích tây của lũ sói đã thất bại. 3 con chó chăn cừu điều chỉnh lại tốc độ truy đuổi nhanh nhất. Lũ sói ngạc nhiên: bọn Ngao Tạng đã trở nên xảo quyệt hơn mình rồi sao? Bầy sói không ngờ trong số chó chăn cừu đang truy đuổi chúng có 1 con Ngao Tạng đặc biệt xuất sắc. Chính là con sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ. Đó là 1 con Ngao đực đang tuổi sung sức nhất. Ngoài sự dũng cảm và nhạy bén của đôi tai và cái mũi ra, nó còn có 1 bộ óc đủ thông minh. Bộ óc thông minh đó có thể phán đoán chính xác tình thế cục diện chiến trường, kịp thời nắm bắt và đập tan âm mưu của kẻ địch. Điều quan trọng hơn là kho dư trữ kinh nghiệm và tri thức cộng thêm ký ức di truyền của nó khiến con Ngao Tạng này có 1 khả năng tư duy ưu việt. 1 khi nó ý thức được nó có khả năng ưu việt vượt trội hơn những con Ngao Tạng khác, nó sẽ làm theo sự gợi mở tự nhiên của thiên tính, trở thành 1 con Ngao Tạng đầy mưu mô và khát vọng muốn thể hiện mình. No cho rằng bất kỳ lần nào chiến đấu với dã thú, kể cả lần này đuổi giết bọn sói, là 1 dịp để thể hiện mình. 1 con Ngao Tạng sẵn có tố chất làm thủ lĩnh quyết không bỏ qua 1 cơ hội như vậy. Nó tự nhủ phải cắn chết đối phương, mà chỉ cắn 1 cái là đối thủ phải chết, nếu không sẽ không xứng đáng với bộ lông Ngao trắng như tuyết của nó. Nó biết rõ mình là 1 con Ngao đực sư đầu có bộ lông trăng rất đẹp. Ở thảo nguyên Chia-cu Tây này, mấy đời Ngao Vương đều có bộ lông trắng. Phải chăng đây là sự an bài của thần linh? Thần linh đặc biệt chăm sóc, để mắt đến những con Ngao tạng có bộ lông trắng. Đối với nó, đương nhiên cũng như vậy. Như vậy nó sẽ phải thử xem sao. Không phải bây giờ, mà là tương lai. Nó đang nuôi ảo tưởng. Không! Không phải ảo tưởng, mà là niềm hy vọng cháy bỏng, hy vọng với trí tuệ và lòng dũng cảm, Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao sẽ bị nó đánh bại. Nó hy vọng 1 ngày nào đó nó sẽ trở thành 1 con chó lãnh địa tự do, trở thành Ngao Vương mới, uy trấn 4 phương của thảo nguyên Chia-cu Tây.







quyển của anh Hoàng là bản dịch hay nguyên gốc hả anh? anh mua ở đâu hả anh? :D đọc kết quá :D
Sách này đã có bản dịch xuất bản cách đây hơn 2 năm rồi, có bán ở các nhà sách đấy bạn. Nhưng lâu quá rồi không biết còn không. Có khi có nhiều sách mới người ta bỏ sách cũ ra khỏi quầy đấy.

PS: sao ai cũng gọi mình là "anh" thế nhỉ ;;)
 

ohcuey

Member
Sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ đầy âm mưu này đuổi lên trước tiên, dùng cái đầu to húc làm con sói đực cường tráng đang bị truy đuổi ngã lăn ra. Sói định chạy thì Ca-pao-sân-cơ đã như hòn núi đè nặng lên người nó. Con sói đực quay đầu lại định cắn. Ca-pao-sân-cơ nhe răng ra đón răng nanh của sói. Trong khoảnh khắc so le giữa 2 chiếc răng nanh thì “rắc” 1 tiếng, chiếc răng gãy. Đó là chiếc răng cứng chắc của sói chứ không phải của Ngao Tạng, vì răng của Ngao Tạng còn cứng chắc hơn nhiều. Sói bị gãy răng như xạ thủ bị tước mất súng. Nó bị Ca-pao-sân-cơ cắn vào gáy.

Tương truyền gáy của sói hoang có thần hộ mệnh sói Wa-chia cư ngụ. Chỉ cần cắn 1 lỗ đằng sau gáy sói, thần hộ mệnh sói Wa-chia sẽ mất đi 1 sợi tóc. Khi tóc mất hêt thần hộ mệnh sói sẽ chết, lúc đó trên thảo nguyên sẽ không còn sói nữa. Cũng có người nói sau gáy của sói là nơi linh hồn sói lìa khỏi xác chạy ra ngoài, sẽ đem lại vận xui cho Ngao Tạng và người nuôi Ngao Tạng. Nhưng nếu cắn vào gáy sói, hồn nó sẽ không còn đường chạy thoát, sẽ bị ngạt trong xác, như vậy vận xui sẽ vĩnh viễn bám chặt vào sói. Chính vì vậy mà Ngao Tạng trên thảo nguyên khi vật lộng với sói đều cắn miếng cắn chí mạng vào gáy đối phương. Gáy của sói hoang cũng là huyệt làm máu sói tuôn như suối.
Sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ phập 1 miếng ngoạm vào gáy con sói đực, thế là ngoài đón nhận cái chết ra, sói không còn gì để lựa chọn. Cái chết của đối phương có nghĩa là sự kết thúc cuộc chiến. Ngao Tạng không phải loại tham ăn, tuy thịt sói thơm ngon thật. Ca-pao-sân-cơ bỏ con sói đực chết lại, chạy như bay về phía trước, đuổi kịp sư tử mới San-chia-sân-cơ, rồi đuổi kịp con sói đực thứ 2. Nhưng nó không cắn ngay. Nó sánh vai chạy cùng con sói. Khi chạy quá nửa thân sói, nó quay đầu lại cản sói, vờ há miệng cắn 1 cái. Sói đực vội tránh sang 1 bên, thế là tốc độ của nó bị chậm lại. Vừa lúc đó sư tử mới San-chia-sân-cơ cũng đuổi kịp, ngoạm 1 miếng, răng cắm phập vào gáy sói. Ca-pao-sân-cơ dừng lại, vui mừng sủa lên 1 tiếng “tốt”. Con San-chia-sân-cơ cũng vui mừng không kém. Nó vừa cắm ngập răng vào con sói hưởng thụ niềm sung sướng khi răng mình ngâm vào máu sói nóng hổi, vừa không bỏ lỡ dịp vẫy đuôi cảm kích. Con Ca-pao-sân-cơ sủa 1 tiếng ý bảo “Có gì đâu.” Rồi lại phi về phía trước.

Ca-pao-sân-cơ biết rõ 1 con Ngao Tạng nếu mang trong mình tố chất thủ lĩnh không những bản thân phải chiến đấu dũng mãnh mà còn phải giúp bạn hoàn thành đại nghiệp, để công trạng thuộc về bạn mình. Nếu cứ cho rằng mình giỏi giang cao siêu hơn những con Ngao Tạng khác, tranh giết con mồi mà chúng đang săn đuổi thì những con Ngao Tạng khác sẽ ghen tị thù ghét. Vì lòng tự tôn tự cường là tố chất trời phú cho tất cả những con Ngao Tạng đứng vững không thất bại trên thảo nguyên. Làm tổn hại đến quyền đó của đối phương chẳng khác nào tự làm tổn hại uy tín của mình. Tuy đối phương không thể chiến thắng anh, nhưng chắc chắn sẽ không bao giờ theo anh. 1 con Ngao Tạng có tham vọng làm thủ lĩnh dù mạnh mẽ đến không ai bì được cũng không thể rũ bỏ những người đi theo mình. Dòng máu cổ xưa và thuần tuý bao đời truyền lại của loài Ngao Tạng như đấng tiên tri mách bảo sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ rằng: những người theo và ủng hộ nó là nền tảng của 1 vị thủ lĩnh trị vì vương quốc. Làm sao có được những người theo mình là bài toán không thể thiếu, phải giải mã trước khi muốn trở thành thủ lĩnh. Địa vị của Ngao Vương 1 nửa dựa vào sức mạnh của chính mình, 1 nữa dựa vào sự ủng hộ của các con Ngao Tạng khác, thậm chí của cả những con chó Tạng lâu la.

Sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ dốc hết toàn lực chạy đón đầu con sói đực cuối cùng. Nó quay ngoắt người lại buộc con sói đổi hướng chạy. Sư tử chim ưng Chi-ông-pao-sân-cơ đang bám chặt phía sau chỉ đợi có thế ào đến như vũ bão, dùng vai húc đổ con sói đực rồi ngoạm 1 cái vào gáy con sói đực cuối cùng này.

3 con sói hoang bị 3 con Ngao Tạng chăn cừu cắn chết tươi chỉ trong nháy mắt.

2 con sói cái và 3 con sói con đã thoát hiểm, không tận mắt thấy được cái chết thê thảm của 3 con sói đực. Nhưng chúng biết 3 con sói đực, trong đó bao gồm cả chồng của sói cái đầu đàn và cha của lũ sói con, đã chết. Chúng đứng trên 1 gò cao kêu gào thảm thiết. Chúng kêu rất lâu, lâu lắm. Đặc biệt là con sói cái đầu đàn. Trong tiếng gào thét của nó chứa đầy ân hận và nghi vấn: Tại sao? Tại sao lại thế? 3 con chó chăn cừu nghe thấy tiếng kêu của cô gái tại sao không quay về cứu? Chẳng lẽ cô gái đó là người nơi khác đến, không có quan hệ chủ tớ với chúng nên chúng bỏ mặc?

Nhưng rất nhanh con sói đầu đàn hiểu ra không phải như vậy. Những con sói hoang được phân công bao vây cô gái nghe tiếng tru thê thảm đã tìm đến đây. Chúng là gia tộc sói đực gồm 4 con sói tráng kiện và 2 con sói con, vì nhanh chân chạy nên không bị hao binh tổn tướng. Chúng cho gia tộc sói cái đang đau khổ khóc lóc biết khi chúng buộc cô gái phải kêu lên sợ hãi và định cắn chết cô thì bỗng nhiên từ đâu xuất hiện cả 1 bầy đen kịt chó lãnh địa. Dưới sự chỉ huy của 1 thằng bé tên là Pa-ơ-chiu-chu và 6 người bạn của nó từ phía bên kia sông Dã-la chạy đến. Gia tộc sói đực có 6 con đâu phải đối thủ của cả đàn chó lãnh địa này. Ngoài việc chạy bán sống bán chết ra chúng còn có thể làm gì nữa? Sự thực là chưa đợi cho đàn chó qua sông, chúng đã cao chạy xa bay rồi, nếu không kết cục sẽ cực kỳ thê thảm. Dưới sự càn quét như vũ bão của đàn chó lãnh địa, sự diệt vong hoàn toàn của gia tộc sói đực chỉ là chuyện xảy ra trong tích tắc.

Điều đáng tiếc là gia tộc sói cái không nghe thấy và không đánh hơi thấy đàn chó lãnh địa xuất hiện, nên chúng vẫn theo đúng kế hoạch thu hút 3 con chó chăn cừu. Nhưng 3 con chó chăn cừu, đặc biệt là con sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ thì đã đánh hơi thấy sự biến động ở sông Dã-la. Khứu giác của nó thật tuyệt, nhạy hơn sói hoang nhiều. Không những chúng đánh hơi thấy đàn chó lãnh địa mà còn đánh hơi thấy Pa-ơ-chiu-chu và 6 cậu bạn nữa. Sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ thông tin ngay cho 2 người bạn của mình: “đã đánh hơi thấy chó lãnh địa xuất hiện rồi. Dẫn đầu là Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao vô địch. Chúng ta không cần lo cho cô gái người Hán Mây-tô-la-mu nữa.”
 

ohcuey

Member
Trên thảo nguyên đêm đã về khuya, những con sói sống sót trong gia tộc sói cái và gia tộc sói đực đồng loạt ngẩng cổ tru lên những tiếng hú dài. Tiếng hú bi ai và phẫn uất than khóc cho 3 con sói đực đã chết. Những con sói khác ở xa nghe thấy cũng hú chia buồn. Khắp thảo nguyên vang lên tiếng khóc than. Thần hộ mệnh sói đã biến thành gió thồi vù vù trên thảo nguyên.

Cô gái người Hán Mây-tô-la-mu trong 1 ngày thoát chết 2 lần, lúc này cảm thấy sức khoẻ và tinh thần đều rã rời. Trong khoảnh khắc nhìn thấy đàn chó lãnh địa cùng Pa-ơ-chiu-chu và 6 đứa bạn của nó, 2 chân cô bỗng mềm nhũn. Cô ngồi phịch xuống đất, 2 tay bưng mặt khóc hu hu. Pa-ơ-chiu-chu ngồi cạnh cô. Nó biết cô tiên xinh đẹp Mây-tô-la-mu đến đây là vì nó, suýt nữa cô còn bị sói ăn thịt. Điều đó làm cho nó cảm động, cảm động đến phát run lên. Nó cảm thấy áy náy, áy náy đếm mức chỉ muốn đâm đầu vào đá. Nhưng nét mặt nó không hề biểu cảm, hệt như 1 thằng ngốc.

Mãi sau Mây-tô-la-mu mới đứng dậy. Cô nói: “Ta đi thôi. Sao cháu vẫn chưa mang giày? Xem kìa, chân chảy máu rồi. Bị nhiễm trùng uốn ván thì làm thế nào?” Pa-ơ-chiu-chu ngẩn người ra 1 lúc rồi quay người chạy, nói bằng tiếng Tạng: “Kẻ thù Ama Thượng, kẻ thù Ama Thượng!” 6 đứa bạn của nó và đàn chó lãnh địa chạy ùa theo.

Rất nhanh chúng đã tìm thấy Nua-bu và 3 con chó chăn cừu đang bảo vệ cậu chủ bé nhỏ. Tất cả dựng lại chốc lát, chó nói chuyện với chó, người nói chuyện với người. Sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ thoáng thấy Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao. Nó dựng thẳng đuôi lên 1 cách kính cẩn. Sau đó nó đi tới, khiêm tốn nhún nhường ngửi ngửi lông Ngao trắng như tuyết và cao quý của Ngao Vương. Ngao Vương lấy lưỡi liếm nó, thể hiện sự yêu mến. Còn đối với sư tử mới San-chia-sân-cơ và sư tử chim ưng Chi-ông-pao-sân-cơ thì Ngao Vương chỉ đưa ánh mắt hỏi thăm: “Lâu không gặp, khoẻ chứ?” 2 con Ngao Tạng kia đi về phía Ngao Vương, cách khoảng 5 bước chúng dừng lại, kính nể cúi đầu xuống, mũi khịt khịt cỏ. Ngao Vương cũng độ lượng khịt mũi đáp lại. Lũ Ngao Tạng nhìn sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ rồi chớp mắt dè dặt, tán thưởng.

Sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ thừa biết trên mõm nó còn lại chút máu sói. Đấy là 1 dấu hiệu vinh quang. Tuy dấu ấn vinh quang như vậy, nhưng đối với 1 con Ngao Tạng như nó, đã từng bách chiến trên sa trường chẳng qua bình thường như 1 ngụm nước mát vậy thôi. Nhưng trước mặt Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao nó vẫn cố tình thể hiện ra. Ngao Vương thừa biết nó cố tình làm vậy, biết con Ngao Tạng có bộ lông trắng như tuyết giống mình có 1 dũng khí và sức mạnh phi phàm, thông minh tài trí hơn kẻ khác. Nó là mẫu chó trời sinh rất hữu dụng. Vì vậy Ngao Vương đã cho nó đầy đủ thể diện rồi. Ngay như hành động nông nổi để lại 1 chút máu sói trên mép để khoe khoang của nó, Ngao Vương cũng không đếm xỉa đến và cho qua. Là 1 Ngao Vương, với bản năng của nó, nó ban thưởng cho đồng loại xuất sắc như 1 đại vương ban thưởng 1 tướng quân anh dũng dưới trướng vậy. Vì vậy Ngao Vương đã rộng lượng tha thứ cho cái vẻ bề ngoài khiêm nhường nhưng bên trong ngạo mạn của Ca-pao-sân-cơ. Ngao Vương cho rằng những con Ngao Tạng có chút tài mà chưa chính chắn đều như vậy cả. Hơn nữa, con sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ không phải chỉ có chút tài mà có nhiều tài. Ngao Vương nghĩ như vậy vì nó đầy tự tin, tự tin quá mức. Nó cảm thấy trí tuệ và sự dũng mãnh của nó không con Ngao Tạng nào có thể sánh bằng. Cho dù con Ngao đực già lông xám đến bên cạnh nó nhắc nhở: “Ca-pao-sân-cơ cũng có bộ lông trắng như tuyết. Xem hắn kìa, trên mõm còn lưu lại chút máu sói. Trong mắt hắn không xem Vương ra gì.” Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao chỉ cười cười như nói: “Hắn có bộ lông trắng thì đã sao? Ta đã dự cảm hắn vĩnh viễn không thể khiêu chiến với Ngao Vương ta đâu.”

Ngao Vương dẫn đầu, cả đàn chó lãnh địa và 3 con chó chăn cừu theo sau. Chúng không chút do dự cho rằng 7 đứa trẻ Ama Thượng đã đến núi vọng gác. Núi vọng gác của Chia-cu Tây đêm nay đã bị kẻ thù Ama Thượng xâm phạm, quả là điều sỉ nhục. Chúng căm thù nghiến răng kèn kẹt, dẫn 7 đứa trẻ thảo nguyên Chia-cu Tây, đứng đầu là Pa-ơ-chiu-chu như nước sông Dã-la cuồn cuộn chảy, ào ào xông vào màn đêm dày đặc.

Mây-tô-la-mu đuổi kịp Pa-ơ-chiu-chu, cô nghiêm nghị nói: “Cháu không được đi đánh nhau. Cháu và những cậu bé kia đều là con cái nhà du mục nghèo khó, đánh nhau nhỡ bị thương thì sao? Hơn nữa, tuy cháu tên là Pa-ơ-chiu-chu, nhưng cháu chưa phải pa-ơ thực sự. Cháu không có quyền ra lệnh bắt họ phải rời khỏi thảo nguyên Chia-cu Tây. Thảo nguyên là của tất cả mọi người, không phải của riêng mình cháu.” Đôi mắt to đen nháy của Pa-ơ-chiu-chu chớp chớp. Nó đoán được Mây-tô-la-mu nói gì, nhưng nó không biết phản ứng ra sao. Nó chỉ có thể im lặng, dồn nén tất cả những gì nó muốn nói vào trong đầu: Cha và chú bị người của thảo nguyên Ama Thượng giết chết. Mẹ phải gả cho người tiễn ma Ta-chư. Người tiễn ma không phải là người may mắn, người không có may mắn không thể báo thù cho cha và chú được. Người báo thù được chỉ còn lại nó. Nó quyết chí báo thù, nếu không chẳng còn là đàn ông nữa, sẽ bị tù trưởng ruồng bỏ, dân du mục chê cười và các cô gái coi thường.

Pa-ơ-chiu-chu chạy lên trước, thoáng chốc đã bỏ lại cô tiên người Hán Mây-tô-la-mu phía sau. Mây-tô-la-mu quay lại, phát hiện Nua-bu và 3 con chó chăn cừu cũng theo Pa-ơ-chiu-chu đi mất. Cô bất giác rùng mình, vừa gọi tên Nua-bu và 3 con chó chăn cừu vừa đi thật nhanh. Cứ đi như vậy bỗng cô nhận ra núi nhà vọng gác chìm trong đêm đã ở dưới chân cô. Đâu đâu cũng có bóng chó và tiếng sủa. Cô gọi to: “Nua-bu! Ca-pao-sân-cơ! San-chia-sân-cơ! Chi-ông-pao-sân-cơ đang ở đâu?”
 

ohcuey

Member
Con Cang-rư-sân-cơ vẫn cứ khóc u…u…, vừa nức nở vừa cố lê bước nhích dần đến cửa. Cha tôi đến gần vuốt ve an ủi nó và đẩy cửa ra. Đúng như cha tôi nghĩ, trong màn đêm xuất hiện 7 bóng người, đúng là 7 đứa trẻ Ama Thượng đã theo cha tôi đến Chia-cu Tây. Chúng thấy Cang-rư-sân-cơ bên trong, thế là bất kể sẽ ra sao, tranh nhau ùa vào ôm chầm lấy nó. Cang-rư-sân-cơ vẫn khóc u…u…. Những giọt nước mắt vừa xúc động vừa đau buồn. Cha tôi ngạc nhiên hỏi bọn trẻ: “Các cháu còn chưa rời khỏi Chia-cu tây sao? Sao các cháu lại biết nó ở đây?”

Thằng bé đầu to cười hề hề, những đứa khác cũng cười theo. Thằng bé trên mặt có vết sẹo dao chém vừa âu yếm xoa đầu Cang-rư-sân-cơ vừa đưa tay ra hiệu. Thằng đầu to chìa tay ra xin: “Quả thiên đường.”

Cha tôi nói: “Chú biết các cháu đến Chia-cu Tây là vì chú cho các cháu mấy quả thiên đường. Đấy là củ lạc, mọc ở quê chú nhiều lắm, muốn ăn bao nhiêu cũng có. Nhưng ở đây chú ăn hết rồi, không còn để cho các cháu nữa. Các cháu hãy về đi, nơi đây không phải là nơi các cháu có thể ở lâu được.” Thằng đầu to dịch lại những lời của cha tôi cho các bạn nghe. Thẳng bé mặt sẹo đứng dậy chỉ Cang-rư-sân-cơ. Thằng đầu to hiểu ý nói với cha tôi: “Chúng cháu phải đi cùng với nó.”

Cha tôi giải thích: “Vết thương của Cang-rư-sân-cơ chưa lành hẳn, chưa đi ngay được đâu.” Thằng bé mặt sẹo đoán được cha tôi nói gì. Nó nói bằng tiếng Tạng: “Thế thì chúng cháu cũng không đi.” Thằng đầu to gật đầu, tất cả những đứa khác, cả Cang-rư-sân-cơ cũng gật đầu tán thành. Cha tôi nói: “Các cháu chỉ có 7 người, mà đều là trẻ con, lẽ nào các cháu không sợ người và chó ở đây ư? Thôi về đi, về thảo nguyên Ama Thượng của các cháu đi.”

Thằng đầu to trả lời: “Không, không về nữa, mãi mãi không về nữa, kiếp này, kiếp sau, kiếp sau nữa cũng không về đấy nữa.” Cha tôi ngạc nhiên hỏi: “Tại sao? Chẳng lẽ những người thảo nguyên Ama Thượng không tốt với các cháu sao?” Thằng bé đầu to nói với thằng mặt sẹo mấy câu rồi nói với cha tôi: “Thảo nguyên Ama Thượng có nhiều quỷ đầu lâu, nhiều ma quỷ moi tim ăn, nhiều con ma nữ cướp hồn đấy.”

Cha tôi hỏi: “Không về thảo nguyên Ama Thượng thì các cháu về đâu?” Thằng bé mặt sẹo đoán được cha tôi nói gì, nó trả lời bằng tiếng Tạng: “Cang-chinh-chuô-chi, Cang-chinh-chuô-chi.” Thằng bé đầu to nói thêm: “ơ-mi-thuô-cang-rư”. Cha tôi không hiểu hỏi lại: “Thế nào là ơ-mi-thuô-cang-rư?” Thằng bé đầu to giải thích bằng tiếng Hán: “Là ngọn núi tuyết mọc ra từ biển lớn, là núi vô lượng.” Cha tôi lại hỏi ở đâu. Thằng bé nhìn về nơi xa xăm màn đêm bao phủ, nó lắc đầu. Tất cả bọn trẻ cũng nhìn về phương xa. Xa xa là những dãy núi hùng vĩ trùng trùng điệp điệp, 4 mùa bao phủ tuyết trắng xoá. Cha tôi hỏi tiếp: “Các cháu đến đấy làm gì?” Không đứa nào trả lời.

Ngao đen Na-rư đi đến cửa, nghẹo đầu giương mắt còn sưng lên nhìn 7 đứa trẻ. Nó biết chúng là chủ nhận của Cang-rư-sân-cơ, nhưng nể mặt Cang-rư-sân-cơ nó không thể làm gì chúng được. Hơn nữa khi chúng đến kêu: “Ma-ha-cơ-la-pân-sân-pao”. Câu thần chú huyền bí đó đến từ tổ tiên xa xưa của những con Ngao Tạng. Dường như câu đó là tín hiệu về sự thuần phục của Ngao Tạng với con người, được con người sử dụng để dạy bảo Ngao Tạng, làm tính khí hung hăng của những con Ngao Tạng có linh tính mà ai cũng không mong gặp phải dịu đi. Hễ nghe thấy câu đó, tính tình ngang ngược hung hăng không thuần của chúng sẽ mềm lại.

Ngoa đen Na-rư nằm trước cửa, mắt và bụng còn đau nhói. Nó rất muốn chợp mắt 1 chút, nhưng bản tính trung thành với chức trách khiến nó không thể an tâm. Nó gối đầu lên chân trước, lặng lẽ nhìn về phía trước. Rồi rất nhanh, nó bỗng trở nên bồn chồn không yên, vểnh tai đứng dậy, khẽ sủa mấy tiếng. Khứu giác và thị giác tuyệt vời của nó báo cho nó biết mối hiểm nguy sắp ập đến rồi.

Điều khiến con Na-rư lo lắng là Cang-rư-sân-cơ chưa đi lại được. Hán Cha-xi, người bón cho nó ăn và chữ trị vết thương cho nó cũng đang lâm vào tình thế ốc không mang nổi mình ốc, vả lại 7 đứa trẻ Ama Thượng kia đến đây thật không đúng lúc chút nào. Cứ cho răng chúng có thể kêu to câu thần chú huyền bí: “Ma-ha-cơ-la-pân-sân-pao” để chặn sự tấn công của đàn chó lãnh địa đi nữa, thì câu thần chú đó hoàn toàn không có tác dụng với những đứa trẻ Chi-cu Tây đang sôi sục máu phục thù.

Nếu 2 bên đánh nhau, nó phải làm gì đây? Đứng về phía Cang-rư-sân-cơ, theo ý nguyện của Cang-rư-sân-cơ bảo vệ chủ nó, 7 đứa trẻ Ama Thượng? Điều đó tuyệt đối không thể được! Vì bảo vệ họ nghĩa là phải cắn xé người Chia-cu Tây và chó thảo nguyên Chia-cu Tây, đây là việc dù có chết nó không không làm. Hay ngược lại, nghe theo ý chí của 7 đứa trẻ Chia-cu Tây, cắn xé 7 đứa trẻ Ama Thượng? Thế cũng không được, vì chúng biết đọc câu thần chú “Ma-ha-cơ-la-pân-sân-pao”, hơn nữa chúng là chủ nhân của Cang-rư-sân-cơ. Ôi Cang-rư-sân-cơ là 1 con Ngao Tạng đực có sức hấp dẫn làm sao. Nó trẻ, khoẻ, đẹp trai, khí phách, hiên ngang, là đối tượng để tất thảy những con Ngao cái xinh đẹp yêu say đắm.

Ngao đen Na-rư ra khỏi cửa, đi qua bức tường đá khắc kinh, nhìn vào màn đem sủa khe khẽ. Nó đã thấy các bạn chó lãnh địa, những người bạn, những người anh em ngày đêm sống có nhau của nó cùng với chó nhà chùa, chó chăn cừu, dưới sự xúi giục của chó lãnh địa đã lặng lẽ tiếng về đây rồi.
Đàn chó lặng lẽ tiếp cận mục tiêu. Lúc này chúng không cần tiếng sủa. Những trận đánh úp như thế này đều không cần tiếng sủa. Chúng đang lặng lẽ đến gần. Chùa Chia-cu Tây bỗng im ắng 1 cách lạ thường. Cả thảo nguyên Chia-cu Tây mênh mông cũng chìm trong tĩnh lặng. Chỉ có tiếng con Ngao đen Na-rư đang vang lên êm ả. Đấy là lời thăm hỏi, lời cầu xin hoà giải: “Sao các bạn đều đến cả đây thế này? Có việc gì không?” Nó vẫy đuôi 1 cách bình thản, cố tạo cho mình 1 thần thái ung dung tự tại. Bầy chó tỏ vẻ nghi hoặc: Đây chẳng phải là con Ngao đen Na-rư đấy ư? Nơi này rõ ràng đang phảng phất hơi của người lạ, chó lạ. Sao nó trông có vẻ như chẳng có việc gì xảy ra?

Dưới sự dẫn đầu của Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao, bầy chó đừng lại cách Na-rư khoảng 20 bước. Con nào con nấy vẫy đuôi chào đáp lại nó. Chúng chờ đợi lời giải thích của Ngao đen Na-rư.

Ngao đen Na-rư bước những bước nặng nề đến gần bầy chó. Với quan hệ đặc biệt thân mật của nó với Ngao Vương, kiểu thân mật bạn bè chứ không phải giữa con đực với con cái, với uy tín của nó trong đàn chó lãnh địa, nó tin rằng việc giải thích của nó không thể không có chút hiệu quả nào. Cách giải thích của nó là để cho bầy chó nhìn thấy vết thương đang lành của nó, ngửi thấy trên người nó có hơi của Hán Cha-xi và của Cang-rư-sân-cơ đã thân thiết lắm rồi. Còn về 7 đứa trẻ Ama Thượng kia ư? Họ là chủ nhân của Cang-rư-sân-cơ, gần gũi với Cang-rư-sân-cơ tất nhiên phải gần gũi với chủ nhân của nó. Đấy chẳng phải chuyện thường tình sao?

Đa số chó lãnh địa hiểu được ý của Ngao đen Na-rư. Chúng mơ hồ cảm thấy sự lựa chọn của Na-rư cũng nên là sự lựa chọn của chúng. Không cần thiết phải “đạn lên nòng, kiếm rút khỏi bao” nữa. Về thôi, về thôi, về bên kia sông Dã-la đánh 1 giấc ngon lành đi. Chị ruột Na-rư, Ngao đen Cô-rư đến gần em gái trìu mến liếm liếm vết thương của em mình. Sau đó nó cũng kêu lên: “Về thôi, về thôi.”

Nhưng đàn chó nhà chùa và chó chăn cừu không nghe. Chúng không công nhận uy tín của Na-rư, cũng không có nỗi niềm riêng tư như của Na-rư. Trong đàn chó nhà chùa và chó chăn cừu đang yên lặng bỗng có tiếng hú dài chói tai. Đấy là tiếng “ê…ê…” khiển trách đối với Ngao đen Na-rư. Na-rư kêu “u…u…” đáp lại, ý nói: “Nể mặt thảo nguyên Chia-cu Tây, các bạn hãy nghe tôi 1 lần nhé.” Chó lãnh địa, chó nhà chùa và 3 con chó chăn cừu con này sủa 1 tiếng, con kia sủa 1 tiếng, nhưng mắt chúng đều hướng về Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao. Chúng biết rằng giờ phút này quyền quyết định là của Ngao Vương. Ngao Vương bảo sao chúng sẽ làm vậy.
 

ohcuey

Member
Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao từ nãy giờ vẫn nhìn chằm chằm vào Na-rư. Na-rư vẻ cầu xin tiền đến trước mặt Ngao Vương. Ngao Vương ngửi ngửi mũi nó, rồi xem xét vết thương trên người nó, liếm liếm mắt bị thương của nó. Rồi bỗng Ngao Vương rũ thật mạnh bộ lông trắng như tuyết, nghĩa là nó không muốn đi về. Ít ra chưa muốn đi về ngay lúc này, vì còn có loài người. Loài người mới là thủ lĩnh chi phối mọi hành động trong lúc này. Trước sự chi phối của thủ lĩnh, lựa chọn của Ngao Tạng không phải là tiến hay lùi mà là nghe lệnh. Na-rư hiểu ý Ngao Vương. Nó ủ rũ rời khỏi Ngao Vương, đi lại giữa bầy chó, kể lể thảm thiết: ngửi đi, hãy ngửi hơi trên người tôi đi. Đấy là hơi của Hán Cha-xi, của Cang-rư-sân-cơ. Tôi cùng với họ đã kết thành bạn đáng tin cậy rồi. Các bạn hãy tha cho họ đi. 7 đứa trẻ Ama Thượng kia là chủ của Cang-rư-sân-cơ đấy, cũng tha cho họ đi.”

Không có con chó nào nghe nó kể lể cầu xin nữa. Ngay những con chó lãnh địa vốn thông cảm với nó cũng lập tức thay đổi thái độ, vì Pa-ơ-chiu-chu và bạn nó đã đuổi kịp đến. Chúng đồng thanh hô ta: “Ao-tô-chi! Ao-tô-chi!” Bầy chó nghe thấy tiếng hô con nào con nấy hưng phấn hẳn lên. Bọn trẻ lại đồng thanh hô: “Kẻ thù Ama Thượng! Kẻ thù Ama Thượng!” Tiếng chó sủa bỗng như pháo nổ rang. Bầy chó như nước vỡ bờ ào ào xông vào tăng xá.

Ngao đen Na-rư nhìn chúng bạn. Nó rùng mình, bỗng bật chạy theo chúng bạn. Bản thân nó cũng không khỏi ngạc nhiên: sao mình cũng chạy? Mà chạy rất nhanh cơ chứ. Vết thương bên mắt trái, trên bụng nó còn chưa lành hẳn khiến nó khó chịu đến nỗi vừa cắn chặt hàm răng vừa thở thật sâu. Nó chạy đến cửa tăng xá, chạy ngang bậc thềm, ngẩng cổ nhìn lên bầu trời đen như mực, dồn hết sức sủa vang 1 tiếng.

Động tác của cha tôi quá chậm. Ông còn chưa kịp đóng cửa lại thì con chó chăn cừu sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ đã vồ vào tăng xá trước. Sau nó là sư tử mới San-chia-sân-cơ và sư tử chim ưng Chi-ông-pao-sân-cơ, tiếp theo là mấy con chó lãnh địa hung hãn. Con Ngao đưc xám già và Ngao đen Cô-rư cũng ào vào. 7 đứa trẻ Ama Thượng đồng thanh kêu to: “Ma-ha-cơ-la-pân-sân-pao! Ma-ha-cơ-la-pân-sân-pao!”

Cũng chính con sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ ngây người ra trước. Nó gần như sắp vồ vào thằng bé mặt sẹo đang đứng chắn bảo vệ Cang-rư-sân-cơ. Nhưng nó chưa kịp cắn thì nghe thấy tiếng gì lạ quá. Lạ đến nỗi nó cảm thấy dường như mình nghe thấy tiếng gọi từ xa xưa của chủ nhân nó đang ẩn mình đâu đây. Những người đang đứng trước mặt nó rõ ràng không quen biết. Ngay cả hơi thở và hình dáng của họ nó cũng không quen. Sao họ lại phát ra tiếng gọi của chủ nhân vẫn tiềm tàng trong ký ức sâu xa của nó nhỉ? Nó dùng thân mình cao gần bằng thằng bé mặt sẹo đứng chắn ngang bọn trẻ, kêu trầm trầm gừ gừ trong cổ họng. Tiếng kêu đã đổi thành tiếng hỏi chứ không phải tiếng đe doạ uy hiếp: “Các người là ai? Chẳng lẽ là chủ nhân sớm nhất của ta? Là chủ nhân kiếp trước của ta? Là chủ nhân của cha mẹ ta, hay chủ nhân của ông bà ta?” Trả lời nó vẫn chỉ là những tiếng “Ma-ha-cơ-la-pân-sân-pao”.

Tất cả những con chó vồ đến đều ngây người ra, không tự kiềm chế được đều lùi về phía sau. Nhân cơ hội này, cha tôi nhảy ra cửa, vừa bế vừa lôi con Ngao đen Na-rư vào trong tăng xá. Trong ý thức của cha tôi, Na-rư đã là bạn của Cang-rư-sân-cơ rồi, đương nhiên sẽ là đối thủ của đàn chó lãnh địa kia, không tránh khỏi bị đàn chó tấn công. Ngao đen Na-rư cố vùng vẫy. Dường như nó không muốn tiếp nhận sự che chở của cha tôi. Nó hy vọng trong thời khắc đặc biệt này, tốt hơn hết là nên giữ thế trung lập. Nó chỉ ngửa cổ lên trời kêu chung chung.


“Na-rư, Na-rư!” Chó thì không thấy sủa nữa, nhưng người thì bắt đầu gọi. Tiếng gọi của Pa-ơ-chiu-chu khiến tai Na-rư vểnh cao lên, vẫy mạnh. Nó bứt ra khỏi cha tôi đang dùng hết sức kéo nó, chạy ra ngoài. Trong đêm tối, Pa-ơ-chiu-chu ôm chầm nó vào lòng, thè lưỡi liếm mắt nó, bụng nó, hệt như người thân lâu ngày gặp lại. Ngao đen Na-rư đuôi vẫy tíu tít, vẫy như sắp rời ra.
Cha tôi lo lắng gọi: “Na-rư! Na-rư! Mau vào đây!” Nhưng đến trước mặt cha tôi không phải Ngao đen Na-rư mà là 1 người cuốn chăn chiên màu đỏ, Lạt ma gậy sắt Tạng Cha-xi. 1 tay cầm gậy sắt, 1 tay cầm bó đuốc đang cháy rực, Tạng Cha-xi vừa bước vào nhà đã đẩy 7 đứa trẻ Ama Thượng ra cửa, rồi dùng thân hình to cao của mình nói với bọn trẻ giọng ôn hoà: “Chúng bay không chạy thoát đâu. Tốt hơn là ra ngoài đi. 1 chọi 1 là việc không thể tránh khỏi rồi. Phải cố hết sức đấy. Số phận của chúng bay nằm trong tay chúng bay.”

7 đứa trẻ Ama Thượng đi ra cửa, Tạng Cha-xi cũng theo ra. Bên ngoài, trên mảnh đất trống giữa bậc thềm và bức tường đá khắc kinh Ma-ni sáng như gương in đầy bóng người. Mười mấy vị lạt ma gậy sắt và hơn 10 người chăn cừu nghe tin đã cầm đuốc đến đây đứng giữa bầy chó và mấy đứa trẻ như những con hạc đứng giữa đàn gà. Thêm thằng bé Nua-bu là tất cả 8 đứa trẻ Chia-cu Tây đầy phẫn nộ đối mặt với 7 đứa trẻ Ama Thượng. Đàn chó lại bắt đầu sủa inh ỏi, nhưng không vồ vào nữa. Dường như chung biết được nếu vồ vào sẽ bị tiếng thần chú “Ma-ha-cơ-la-pân-sân-pao” chặn lại.

Hình như cố tình để cha tôi nghe thấy, lạt ma gậy sắt Tạng Cha-xi nói to bằng tiếng Hán: “Chúng ta làm theo quy tắc của thảo nguyên, trẻ con vật với trẻ con, 7 người vật với 7 người. Không kể người lớn, cũng không kể chó. Người của Ama Thượng thua, mỗi người để lại 1 bàn tay, cút khỏi thảo nguyên Chia-cu Tây. Người Ama Thượng thắng, chúng ta biếu mỗi người 1 con cừu, người lành lặn cút khỏi thảo nguyên Chia-cu Tây.” Vừa nói dứt lời, các vị Lạt ma và những người chăn cừu đều giơ cao tay, gậy sát kêu loảng xoảng, đuốc cháy rừng rực.

Cha tôi bước ra ngoài cửa và nhìn thấy dưới ánh đuốc, những đứa trẻ thảo nguyên Chia-cu Tây nét mặt đứa nào đứa nấy đều tức giận hừng hực, sục sôi như những bó đuốc đang rực cháy. Cha tôi thấy đứng giữa đàn chó và bọn trẻ không chỉ có mấy vị lạt ma và người chăn cừu, còn có Mây-tô-la-mu. Trời ơi, Mây-tô-la-mu đêm hôm khuya khoắt còn đến đây làm gì? Cha tôi gọi cô, nhưng cô không nghe thấy. Cô cũng đang gọi ai đó. Cô gọi Pa-ơ-chiu-chu đến bên mình, nhưng Pa-ơ-chiu-chu không nghe thấy tiếng gọi của nàng tiên xinh đẹp. Mây-tô-la-mu lại gọi Nua-bu, rồi gọi đến Ca-pao-sân-cơ, San-chia-sân-cơ, Chi-ông-pao-sân-cơ. Nua-bu chạy đến bên cô rồi tiếp đó là sư tử mới San-chia-sân-cơ và sư tử chim ưng Chi-ông-pao-sân-cơ. Sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ uể oải miễn cưỡng đi đến bên cô cuối cùng. Nó vừa đi vừa ngoảnh đầu nhìn, tỏ ra không muốn đến bên cô chút nào. Nhưng nó hiểu phải nghe lời Mây-tô-la-mu, vì nó tháp tùng cô đến đây. Tuy cô chỉ là khách trong nhà, nhưng qua thái độ đối xửa của cả nhà và già Ni-ma đối với cô, nó biết cô cũng được coi là chủ của nó rồi. Hơn nữa lại còn có Nua-bu. Là 1 con Ngao Tạng trông nhà, nó cân đong đo đếm được bên nào nặng, bên nào nhẹ. Trước mắt việc quan trọng nhất là phải ở bên cạnh Nua-bu và Mây-tô-la-mu, bảo vệ an toàn cho 2 người. Mây-tô-la-mu kéo Nua-bu và bảo: “Ta về thôi. Về nhà thôi. Không về ông và bố mẹ sẽ lo lắng đấy. Việc của Pa-ơ-chiu-chu chúng ta không dính vào nữa.” Tuy nói vậy, cô vẫn chưa rời khỏi đây ngay, vì Mây-tô-la-mu nhìn thấy Cang-rư-sân-cơ chân đi không vững ra khỏi tăng xá, đứng trước chủ nó, 7 thằng bé Ama Thượng. Thấy nó, đàn chó càng sủa điên cuồng. Chúng ùa đến sắp vồ vào Cang-rư-sân-cơ. Đứa bé mặt sẹo vội nhảy ra ôm khư khư lấy con chó, miệng kêu to: “Ma-ha-cơ-la-pân-sân-pao!”

Đàn chó lùi ra sau. Cang-rư-sân-cơ chui ra từ sau lưng thằng bé mặt sẹo, không chút sợ hãi, đứng chắn giữa thằng bé mặt sẹo và Pa-ơ-chiu-chu. Pa-ơ-chiu-chu đẩy đẩy con Ngao đen Na-rư bên cạnh mình, kêu lên: “Na-rư, Na-rư xông lên.” Theo Pa-ơ-chiu-chu, con Cang-rư-sân-cơ đã bị thương rồi, để con chó khác đến cắn nhau với nó, dù thắng cũng không oai. Cách công bằng hợp lý là cho con Ngao đen Na-rư cũng bị thương cắn nhau với nó và đánh thắng nó. Nhưng Pa-ơ-chiu-chu thật sự bất ngờ. Ngao đen Na-rư đã không thể làm gì khác, trong việc đối xử với Cang-rư-sân-cơ, nó đã sớm trở thành kẻ phản bội của thảo nguyên Chia-cu Tây rồi.

Na-rư nhìn Pa-ơ-chiu-chu, chùn về phía sau 1 chút. Pa-ơ-chiu-chu thấy lạ nhìn nó 1 cái, rồi đẩy nó ra, kêu lên 1 tiếng gì đó, rồi nhảy đến ôm lấy thằng bé mặt sẹo vật nhau.
 

ohcuey

Member
Những thằng bé Chia-cu Tây cũng nhảy lên, như 1 trận thi vật đã được sắp xếp từ trước. 7 đứa trẻ Chia-cu Tây và 7 đứa trẻ Ama Thượng theo luật của tổ tiên để lại xông vào vật nhau.

Đàn chó sủa inh ỏi như sấm nổ vang, nhưng tuyệt nhiên không con nào xông vào trợ giúp. Như đã hiểu ngầm với nhau, khi các của nhân của chúng từng đội một ôm nhau vật, bầy chó chỉ có thể dùng tiếng sủa để reo hò trợ uy, trừ khi chủ nhân phát ra tìn hiệu tấn công. Nhưng những vị chủ nhân luôn tuân theo luật chơi, không bao giờ mượn sức chó để chiến thắng. Thắng lợi như vậy chỉ là điều xấu hổ, sỉ nhục, chẳng vinh quang chút nào.

Trận vật nhau giữa Pa-ơ-chiu-chu và thằng bé mặt sẹo có kết quả sớm nhất. Thằng bé mặt sẹo bị vật ngã xuống đất. Pa-ơ-chiu-chu giơ đốc tay lên biểu thị thắng lợi. Nó gọi to: “Na-rư! Na-rư! Xông lên!” Nó hy vọng Ngao đen Na-rư vồ ngã Cang-rư-sân-cơ rồi cắn chết nó. Na-rư ngả ra sau, làm ra vẻ sắp vồ. Cha tôi vội đến ôm chặt lấy cổ con Cang-rư-sân-cơ, cảnh giác nhìn Na-rư: “Không được bội tín bội nghĩa đấy nhé!” Na-rư thông minh vẫy đuôi, lùi về phía sau mấy bước.

Pa-ơ-chiu-chu bỗng hiểu ra: Ngao đen Na-rư đã ăn ở 2 lòng rồi. Nhưng càng hiểu ra, thằng bé lại càng muốn nó hồi tâm chuyển ý, cải tà quy chánh, càng bắt nó phải vồ cắn Cang-rư-sân-cơ. Pa-ơ-chiu-chu đầy tự tin, nó nghĩa mình là chủ Na-rư khi còn bé, lời nói của mình đối với nó dĩ nhiên có quyền lực nhất. “Na-rư! Na-rư! Xông lên!” Thằng bé kêu gay gắt hơn. Na-rư lại 1 lần nữa làm ra vẻ định vồ vào địch thủ.

Những đứa trẻ khác đang vật nhau cũng đã phân thắng bại. Có kẻ thua người thắng, 3 đứa của Ama Thượng và 3 đứa của Chia-cu Tây thua. Kết quả 4 thắng 3 thua, phần thua thuộc về lũ trẻ Ama Thượng. Vị lạt ma gậy sắt Tạng Cha-xi nhìn cha tôi 1 thoáng, lại nhìn Mây-tô-la-mu, rồi nói to bằng tiếng Hán: “Thua rồi, thua rồi! Ama Thượng thua rồi! Hãy nhốt chúng lại, ngày mai mỗi đứa sẽ bị chặt 1 bàn tay rồi đuổi ra khỏi thảo nguyên Chia-cu Tây!” Nói xong vị lạt ma gọi mấy người chăn cừu lại, kéo 7 đứa trẻ Ama Thượng đi. Cha tôi bỏ con Cang-rư-sân-cơ, đuổi theo đến bức tường đá khắc kinh Ma-ni nói to: “Các anh làm gì vậy, hãy thả chúng đi, chính tôi đưa chúng đến Chia-cu Tây đấy.” Tạng Cha-xi giả bộ không hiểu những gì cha tôi nói, cúi xuống vác 1 đứa trẻ lên vai, kẹp nách 1 đứa khác, sải dài bước đi thật nhanh.

Cang-rư-sân-cơ thở phù phù, nó cố muốn nhảy lên cắn 1 người chăn cừu đang kéo thằng bé mặt sẹo. Nhưng nó bông nghiên sang 1 bên, ngã vật xuống cạnh tường đá khắc kinh Ma-ni.

Pa-ơ-chiu-chu ra sức đẩy con Na-rư về phía tường đá khắc kinh Ma-ni: “Na-rư! Na-rư! Xông lên!” Ngao đen Na-rư chạy đến bên tường đá, nhưng không cắn Cang-rư-sân-cơ mà nằm xuống bên cạnh nó, đau lòng liếm mặt, liếm mũi nó, bất chấp tất cả, với tình cảm chan chứa yêu thương an ủi con Ngao đực bị thương này. Pa-ơ-chiu-chu giận dữ mắng nó 1 câu rồi nhảy đến kéo tai nó lôi sang 1 bên, chỉ vào Cang-rư-sân-cơ nằm bên tường gọi đàn chó: “Ao-tô-chi! Ao-tô-chi! Cắn chết nó! Cắn chết nó!”

Tức khắc đàn chó chia làm 2 phe, 1 phe định xông vào. Chúng là những con chó Tạng lâu la và 1 số chó giữ chùa. Bọn này vốn có tính bạ đâu chầu đấy. Còn 1 phe vẫn án binh bất động. Chúng là những con Ngao Tạng trong số chó lãnh địa, vốn uy nghiêm ngạo mạn. Chúng đứng yên là vì Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao chưa có phản ứng gì. Ngao Vương với thái độ cực kỳ bình tĩnh như người ngoài cuộc quan sát sự việc. Nó nói với con Ngoa đực xám già và ngao đen Cô-rư: “Hình như nó bỏ chúng ta rồi. Chúng ta phải đợi xem rốt cuộc sẽ thế nào, nó sẽ đi xa đến đâu.” Ngao Vương nói “nó” ở đây chính là con Ngao đen Na-rư.

Na-rư hướng về phía bầy chó từng cùng mình sớm tối có nhau “gâu” 1 tiếng. Pa-ơ-chiu-chu mặt đầy giận dữ, với sự căm ghét và trừng phạt kẻ phản bội, đá mạnh con Na-rư 1 cái. Con Na-rư khóc rền rĩ 1 cách đau khổ, nằm xuống đầy vẻ tuyệt vọng. Cha tôi quát to Pa-ơ-chiu-chu: “Sao cháu lại làm càn? Điên rồi à?”

Bỗng nhiên Ngao đen Na-rư dứng đậy, nó kêu u…u… cầu khẩn bầy đàn bằng tiếng sủa to nhất mà nó có thể phát ra lúc này: “Đừng làm vậy, các bạn đừng hại Cang-rư-sân-cơ.” Đàn chó dàn hàng ngang đang xông tới bỗng khựng lại, cả tiếng sủa cũng im bặt. Nhưng Pa-ơ-chiu-chu vẫn không buông tha, nó hô to: “Ao-tô-chi! Ao-tô-chi! Cắn chết nó, cắn chết nó!”

Sau này cha tôi mới biết, “Ao-tô-chi” nghĩa là "mãnh khuyển kim cương", là tiếng người địa phương Chia-cu Tây dùng để kích động chó Tạng xông lên cắn xé đối thủ, giống như tiếng hô “Xung phong giết…” của người Hán vậy. Bất kể là chó lãnh địa, chó trông nhà, chó chăn cừ hay chó nhà chùa, hễ nghe thấy tiếng hô này chúng biết ngay thời khắc mà con người muốn chúng xông lên phía trước, xả thân quyết chiến đã đến.

Đàn chó 1 lần nữa náo động, tiếng sủa vang lên. Trong ánh lửa đuốc, tường đá khắc kinh Ma-ni tựa như 1 tấm gương hắt những bóng đen người và chó lên màn đêm đen như mực. Ngoa đen Na-rư tội nghiệp nhìn Pa-ơ-chiu-chu đầy vẻ cầu xin. Nó đang định chạy sang bảo vệ Cang-rư-sân-cơ thì bị Pa-ơ-chiu-chu đá cho 1 cái nữa vào mũi. Cú đá tuy không mạnh nhưng nói lên ý chí không thể cưỡng lại của chủ. Ngao đen Na-rư hoàn toàn tuyệt vọng. Nó rú lên 1 tiếng đầy bi ai rồi chạy như điên lao về phía trước.

Ngao đen Na-rư chạy đến bức tường đá khắc kinh Ma-ni vừa cao vừa chắc. 1 tiếng “xoảng” như cái gì vỡ vụn vang lên. Tiếp đó là máu thịt phun ra, bắn tứ tung trong khi Ngao đen Na-rư ngã uỵch xuống đất trong máu và lửa. Lúc đó cả người và chó đang nhìn chằm chằm nó mới hiểu chuyện gì vừa xảy ra. Giữa sự phục tùng uy lực của chủ nhân thiêng liêng và sự sai khiến của dục vọng tình yêu, Ngao đen Na-rư đã chọn con đường thứ 3, đập đầu vào tường tự sát.

Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao kêu lên 1 tiếng lớn. Chị của Na-rư, Ngao đen Cô-rư cũng kêu to 1 tiếng xé lòng. Con Ngao đực già và mấy con Ngao Tạng đứng gần đó cũng kêu to mấy tiếng. Tiếng của Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao là tiếng kêu bi ai phẫn nộ, cay cú đau điếng: “Nó đã bỏ chúng ta thật rồi. Không thể thế được Na-rư ơi. Ngao đen Na-rư xinh đẹp, Ngao đen Na-rư tràn đầy sức sống, không thể cứ như thế mà rời xa chúng ta được.” Ngao đen Cô-rư thì đau buồn đến nát ruột gan: “Em gái ta chết rồi! Em gái ta chết rồi!” Còn những con Ngao Tạng khác thì ngạc nhiên và thương tiếc: “Sao Na-rư lại chết? Sao Na-rư lại tự sát?”

Trong khoảng khắc yên lặng, Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao đi đến bên Na-rư, ngửi ngửi rồi lại lặng lẽ quay ra, hoà vào đàn Ngao Tạng trong đêm tối. Trong lúc quay ra, Ngao Vương đã có 1 quyết định mà suốt đời nó không bao giờ thay đổi: “Nhất định ta phải đuổi hoặc cắn chết Cang-rư-sân-cơ. Vì con Ngao đực trẻ khoẻ ngoại lai này đã quyến rũ Na-rư. Chính nó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của Na-rư.” Ngao Vương nghĩ lại, nó đã đối xử với Na-rư không đến nỗi tồi, và tình cảm có rất có thể sẽ phát triển thành sự thân mật ngọt ngào giữa con đực và con cái. Thái độ của Na-rư với Ngao Vương cũng ngọt ngào đượm vẻ e thẹn, chỉ là chưa phát triển đến mức cho phép Ngao Vương giao phối, vì Na-rư không thể coi nhẹ thái độ của Ngao Vương với chị của nó là Cô-rư. Trong mắt Ngao Vương vừa thích Na-rư em lại vừa thích cả Cô-rư chị, vì vậy nó còn đang lựa chọn, do dự chưa quyết định. Trong lúc chưa dứt khoát thì Na-rư em đã chết vì bảo vệ, hoặc vì không thể bảo vệ, Cang-rư-sân-cơ. Ngao đen Na-rư đã kết liễu đời mình 1 cách bi tráng. “Con Ngao đực sư đầu chết tiệt kia, ta phải làm cho bộ lông vàng óng của ngươi nhanh chóng mục rữa. Ta mà không “hỏi han” gì đến mi thì ta không xứng là Ngao Vương nữa. Tâm trạng bi ai pha chút ghen tức khiến Ngao Vương nhanh chóng nung nấu mối thù hận. Nó lẳng lặng đi về phía trước.
 

ohcuey

Member
Nó đi về phía Cang-rư-sân-cơ, sắp thực hiện ý định của mình ngay tức khắc: đuổi nó đi hoặc cắn chết con chó ngoại lai này. Cái bóng trắng như tuyết của nó đang di động, sắp đến gần Cang-rư-sân-cơ, bỗng từ trong đàn chó lộn xộn kia xuất hiện 1 cái bóng cũng trắng như tuyết chắn ngang trước mặt Ngao Vương. Ngao Vương dừng lại, đợi đối phương tránh đường. Nó cho rằng chẳng may đối phương vô tình chắn lối nó thôi, không cần thiết phải nổi giận, chỉ cần đối phương tránh ra là được. Nhưng đối phương không có ý tránh ra. Đó chính là con sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ.

Hành động bạo dạn không kiềm chế nổi của Ca-pao-sân-cơ đã chứng tỏ sự không tôn trọng của nó với Ngao Vương. Thái độ thách thức đó dường như đang nói: “Trong đàn Ngao Tạng sao lại có 1 kẻ phản bội vậy? Là Ngao Vương, sao có thể dung túng cho 1 kẻ mạt hạng, phản trắc sống bên cạnh mình?” Ngao Vương không có thói quen để cho kẻ khác có thái độ như vậy đối với mình. Nó gầm lên 1 tiếng với sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ. Không ngờ Ca-pao-sân-cơ cũng gầm lại 1 tiếng. Ngao Vương ngạc nhiên, sau đó là phẫn nộ. Vốn nó đã phẫn nộ rồi, giờ như đổ thêm dầu vào lửa. Nó vồ vào kẻ cản đường. Ca-pao-sân-cơ dùng vai húc lại để thử sức mạnh của Ngao Vương. Đợi cho Ngao Vương vồ lại lần nữa, nó nhanh chóng tránh sang 1 bên.

Gì thì Ca-pao-sân-cơ cũng là 1 con Ngao đực trưởng thành. Nó thừa biết chưa đến lúc khiêu chiến với Ngao Vương. Nó cần phải nhẫn nại, phải tích luỹ thêm nhiều sức mạnh và mưu trí vào trong thân thề và đầu óc trẻ trung của nó. Phải có 1 thời gian “dùi mài kinh sử, luyện đao múa kiếm”, tìm kiếm sự ủng hộ cũng như chờ đợi thời cơ đến. Vừa lúc Mây-tô-la-mu lại bắt đầu gọi, thế là nhân cơ hội đó nó quay về với cô chủ.

Ngao Vương cảm thấy hành động của Ca-pao-sân-cơ có cái gì đó đáng ngờ. Nó vừa tức giận, vừa nghi hoặc nhìn theo cho đến lúc không thấy Ca-pao-sân-cơ nữa. Nó quay lại tìm Cang-rư-sân-cơ thì không thấy tăm hơi đâu nữa. Nó lắc lắc đầu tỏ vẻ tiếc, vừa đi vừa đánh hơi tìm kiếm rồi sủa ầm lên.
Cha tôi rất nhanh nhẹn. Trong lúc đàn chó và 7 đứa trẻ Chia-cu Tây đang chú ý vào con Ngao đen Na-rư, Ngao Vương và sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ thì cha tôi đã nhanh tay đỡ Cang-rư-sân-cơ lên, kéo bờm nó, đưa nó vào trong tăng xá. Đợi cho Ngao Vương phản ứng lại, dẫn đầu đàn chó 1 lần nữa định xông vào tăng xá thì cửa đã bị chốt chặt rồi.

Cang-rư-sân-cơ hiểu cha tôi lại 1 lần nữa cứu mạng nó. Nó cảm động không cầm nổi nước mắt, vừa khóc u..u… vừa chà mũi vào đùi cha tôi. Lúc này cha tôi không có thời gian giao lưu tình cảm với nó. Ông từ cửa sổ nhìn ra ngoài, muốn biết Ngao đen Na-rư thế nào rồi. Chỉ thấy trước bức tường đá khắc kinh Ma-ni có mấy đứa trẻ và mấy người chăn cừu tay cầm đuốc vây kín đặc con Na-rư. Thằng Pa-ơ-chiu-chu nằm phục bên Na-rư kêu thảm thiết: “Na-rư! Na-rư!”

Mây-tô-la-mu dắt thằng bé Nua-bu mới 7 tuổi cùng 3 con chó chăn cừu men theo đường mòn xuống núi. Họ đến trước nhà vọng gác ngoài trát phân bò, nơi làm việc cùa Uỷ ban công tác Chia-cu Tây, gõ cửa gọi chủ nhiện Bạch-mã-u-chinh và Mắt Kính Lý Ni-ma, báo cho 2 người biết 7 đứa trẻ Ama Thượng đánh nhau đã thua. Người của thảo nguyên Chia-cu Tây đã bắt bọn trẻ. Ngày mai mỗi đứa bị chặt 1 tay rồi đuổi khỏi thảo nguyên Chia-cu Tây. Cô thúc giục: “Phải đi nhanh lên, chủ nhiệm Bạch. Uỷ ban công tác phải mau đứng ra can thiệp đi. Nếu không những đứa trẻ Ama Thượng mỗi người sẽ mất 1 bàn tay. Người ta không thể không có bàn tay được, chủ nhiệm Bạch.”

Bạch chủ nhiệm tán đồng: “Phải, phải, không có tay sau này lớn lên chúng làm sao có thể kiếm sống. Nhưng việc này không đơn giản chút nào. Nếu chúng ta đứng ra can thiệp, bàn tay của 7 đứa trẻ liệu có được an toàn không? Cái khiến tôi còn lo lắng hơn là 1 khi chúng ta xuất đầu lộ diện, điều đó chứng tỏ chúng ta đồng tình với 7 đứa trẻ Ama Thượng. Bọn chúng có đáng để ta đồng tình không? Đương nhiên là đáng, vì xem chúng ăn mặc rách rưới như vậy, biết ngay là con cái nhà lao động nghèo. Nhưng vấn đề là bộ lạc thảo nguyên Chia-cu Tây và các bộ lạc Ama Thượng lâu nay có mối thù truyền kiếp. Nếu chúng ta ân oán không phân minh, lập trường không vững chắc sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ sách lược cô lập các bộ lạc thảo nguyên Ama Thượng. Tôi được nghe trên phổ biến tù trưởng các bộ lạc Ama Thượng không tốt. Trước đây họ nương nhờ vào Mã Bộ Phương, biếu xén bọn phản động Quốc Dân Đảng vàng bạc, sử người đi làm sai dịch, biếu tỳ thiếp, nàng hầu, giúp trung đoàn kỵ binh của Mã Bộ Phương giết hại dân Tạng và Ngao Tạng của thảo nguyên Chia-cu Tây. Những tội ác đó không thể tha thứ. Nhiệm vụ chính của Uỷ ban công tác chúng ta là tìm hiểu dân tình, liên lạc với các tù trưởng, tranh thủ lòng dân, trụ vững tại thảo nguyên này. Giờ thì cơ bản chúng ta đã làm được điều đó rồi. Vạn nhất chỉ vì chuyện này dẫn đến các tù trưởng và dân du mục Chia-cu Tây phản ứng với ta, chẳng phải những cố gắng từ trước tới giờ đổ sông đổ biển sao?”

Mây-tô-la-mu giậm chân thình thịch: “Nhưng chúng ta cũng không thể thấy chết không cứu.” Chủ nhiệm Bạch hỏi: “Ai nói là thấy chết không cứu? Tôi nói là chúng ta phải có 1 kế sách vẹn toàn. Vừa kiên quyết ngăn chặn tình tình phát triển theo chiều hướng xấu, vừa không hành động lỗ mãng.” Mây-tô-la-mu hỏi: “Có kế sách nào vẹn toàn?” Chủ nhiệm Bạch trầm ngâm rồi nói: “Việc này để tôi xử lý vậy. Cô mau về ngủ đi, khuya lắm rồi.” Song lại bảo Lý Ni-ma: “Anh đưa cô ấy về đi, đừng để cô ấy đi lung tung nữa. Đêm hôm khuya khoắt thế này, 1 mình đi ra ngoài thật không an toàn chút nào.”

Trên đường về nhà bạt, Mây-tô-la-mu cau mày cúi đầu hậm hực, không nói câu nào. Thằng bé Nua-bu đi bộ mệt quá, nó cưỡi lên lưng con sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ, ôm cổ con chó gục đầu ngủ gật, đi từ từ theo sau Mây-tô-la-mu. Sư tử mới San-chia-sân-cơ và sư tử chim ưng Chi-ông-pao-sân-cơ vừa đi vừa cảnh giác nhìn quanh, thỉnh thoảng sủa vang 1 tiếng.

Lý Ni-ma thấy ai nấy đều im lặng không nhịn được lên tiếng: “Em sau này đừng thế nữa.” Mây-tô-la-mu vùng vằng nói: “Đừng thế là đừng thế nào?” Lý Ni-ma nói: “Đừng chạy lung tung nữa. Em đừng bận tâm quá nhiều. Em là bác sĩ, chỉ cần khám bệnh tốt là được.” Mây-tô-la-mu nói: “Đấy là phận sự của tôi. 1 bác sĩ không thể nhìn người khác bị hành hình thành tàn phế mà không quan tâm!” lý Ni-ma nói: “Em có cách gì nào? Mâu thuẫn giữa thảo nguyên Chia-cu Tây và thảo nguyên Ama Thượng là do sử sách để lại. Mâu thuẫn đó rất sâu, sâu lắm, sâu đến nỗi không còn biết là ai đúng ai sai nữa. Anh bảo em chiến tranh giữa các bộ lạc là hình thái cơ bản nhất trong đời sống thảo nguyên. Lịch sử thảo nguyên là lịch sử của cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc. Không cón những cuộc chiến đó thì không có các bộ lạc, cũng không có cả thảo nguyên. Chặt tay, chặt chân, cắt tai, cắt mũi, thậm chí lột da, chặt đầu, những việc như vậy nhiều lắm. Ngày xưa người ta không coi những việc đó là gì cả.” Mây-tô-la-mu nói: “Nhưng ngày nay không phải ngày xưa! Ngày xưa tôi chưa đến thảo nguyên, bây giờ tôi đến rồi!” Lý Ni-ma ngạc nhiên nhìn cô: “Mọi người gọi em là Mây-tô-la-mu, nàng tiên đẹp như đoá hoa, em thật sự nghĩ em là nữ thần giáng thế sao?” Mây-tô-la-mu nói: “Anh đừng nói mỉa. Anh về đi, tôi không cần anh đưa!” Lý Ni-ma thấy còn cách nhà bạt của già Ni-ma không xa, đành dừng lại nhìn cô về đến mới quay về.

Mây-tô-la-mu bước nhanh đến cửa nhà bạt già Ni-ma. Cô bế thằng bé Nua-bu đã ngủ say trên lưng con sư tử trắng Ca-pao-sân-cơ xuống, vừa định chui vào nhà bạt thì nghe thấy tiếng bước chân thình thịch của ai đến gần: “Đã về rồi à? Tôi đến chùa tìm các người, họ nói là đã về cả rồi.” Đó là Pan-chi-ô, con trai già Ni-ma. 3 con chó chăn cừu tranh nhau mừng chủ.

Pan-chi-ô vào trong nhà bạt lấy trong 1 chiếc túi da ít thịt sấy khô đổ vào cái chậu gỗ rồi nói với 3 con chó chăn cừu: “Ăn đi, ăn đi, gần nửa đêm rồi. Ăn mau rồi đi ngủ ngay. Trời sáng còn phải đi theo đàn cừu.” La-trân vợ Pan-chi-ô nghe có tiếng động vội chui từ trong chăn ra, đi nấu trà pha sữa và cơm bốc cho Mây-tô-la-mu và Nua-bu ăn. Mây-tô-la-mu đặt thằng bé Nua-bu nằm trên thảm kề bên mình rồi nói với La-trân: “Thôi, chị đừng bận tâm vào bếp nữa, ngủ đi. Ngay mai chị còn phải dậy sớm nấu bữa sáng.” La-trân không nghe lời Mây-tô-la-mu. Chị chỉ nghe lời chồng thôi. Chồng chị đã dặn là: “Bao giờ Mây-tô-la-mu về, em hãy bưng bát trà sữa và cơm nóng bốc khói đến cho cô ấy.”

3 con chó chăn cừu ngấu nghiến chén sạch bát thịt khô rồi nằm ở trước cửa nhà bạt ngủ ngon lành. Chúng tinh khôn biết rõ hơn cả người, phải giữ sức khoẻ dồi dào, tinh thần minh mẫn, vì trời sáng chúng phải theo đàn gia súc đến thảo nguyên đầy thú dữ rình rập. Lúc đó dù có muốn ngủ gật cũng không được.
 

ohcuey

Member
Cạnh bức tường đá khắc kinh Ma-ni sáng như gương có tiếng khóc thảm thiết của Pa-ơ-chiu-chu. Tiếng khóc báo cho mọi người biết Ngao đen Na-rư chết rồi. Nó nằm bất động dưới đất, đầu đập vào tường thủng 1 lỗ, sống mũi bị gãy, vết thương mắt trái vốn đã kín miệng nay lại nứt ra, máu chảy thành vũng dưới đất. Ai nhìn thấy cảnh tượng này đều không khỏi mủi lòng xót xa. 1 người chăn cừu sau khi nhìn thấy nó thương xót, quay lại quát Pa-ơ-chiu-chu: “Khóc! Khóc cái gì! Mày muốn hại con Na-rư à? Mày khóc, linh hồn của Na-rư sẽ bị giữ lại trong tiếng khóc của mày, không bay được đến phương xa để đầu thai đâu.”

Pa-ơ-chiu-chu im bặt. Nó ngây người ra 1 lúc. Nghe thấy sau lưng có tiếng động, nó quay đầu lại, thấy những người chăn cừu, 6 đứa bạn cùng nó vất vả đến gần nửa đêm đang cùng chó lãnh địa và chó nhà chùa lục đục rời khỏi. Nó biết mọi người làm như vậy là đúng. Nó cũng phải theo họ rời khỏi nơi đây. Nơi này cần sự yên tĩnh, cần phải xua tan hồn người sống và chó sống để linh hồn của Ngao đen Na-rư nhanh chóng thoái khỏi những vấn vương trần thế, bay lên trời trong tiếng tụng kinh và làn khói của quê hương. Linh hồn nó sẽ bay trong khói lan toả trong nhà chùa, trong đen dầu heo hắt trong Đại Kinh Đường, trong lửa tháp Điện Thần Hộ Pháp thấu đêm không tắt, trong tiếng tụng kinh niệm phật không ngừng của vị lạt ma gác đêm, tiếng chuông thánh thót như tiếng suối róc rách trong thung lũng sâu không bóng người. Gió thổi khiến cột đá khắc kinh và bánh xe pháp luân va vào nhau phát ra âm thanh “ông ông…” Những lá cờ phướng theo gió lặng lẽ lay động. Dường như những dòng kinh văn trên bức tường khắc kinh Ma-ni xếp thành hàng ngũ vô tận tiến về thiên đường, đến tai chư phật.

Trong bóng tối của bức tường khắc kinh Ma-ni, Ngao đen Na-rư nằm yên lặng tại đó. Nó đã chết. Không thấy ai đi gọi Tạng y Tô-y-thê đến cấp cứu chứng tỏ nó đã chết thật rồi. Nhưng cha tôi lại nghĩ rằng nó còn sống. Cha tôi không biết phong tục tập quán của người thảo nguyên. Ông cho rằng mọi người không khiên xác nó ra ngoài đào hố chôn hoặc đem lên núi cho chim ưng rỉa chứng tỏ nó chưa chết. Ông nghĩ bụng: “Những người này thật chẳng ra sao. Con chó bị thương nặng như vậy, sao bảo đi là đi thật. Đặc biệt là thằng bé ở trần Pa-ơ-chiu-chu. Chỉ biết lợi dụng Na-rư đi đánh nhau, chỉ biết kêu: “Na-rư xông lên, Na-rư xông lên!” rồi “Ao-tô-chi, Ao-tô-chi!”. Bây giờ Na-rư ngã xuống thì bỏ mặc, coi như nó chết rồi. Như 1 gã tướng quân tán tận lương tâm, coi những chiến sỹ không còn chiến đấu được là những người đã chết. Tại sao Ngao đen Na-rư bị thương? Chẳng phải do nó bị bức ép sao?” Cha tôi mở cửa, khe khẽ đến gần Na-rư rồi ngồi xuống xem xét kỹ nó.

Cha tôi chẳng nhìn thấy gì vì đêm tối như mực, lông con ngao cũng đen, vệt máu cũng đen nốt. Nhưng từ sâu thẳm cha tôi nhìn thấy Ngao đen Na-rư bị thương nặng lắm, phải cấp cứu ngay. Còn cấp cứu thế nào? Cha tôi không phải bác sĩ, ông không có thuốc, cũng không hiểu biết y thuật. Ông chỉ biết hà hơi và mồm bệnh nhân để cấp cứu. Ông nằm xẹp xuống đất, hít 1 hợi thật sâu, dùng miệng mình hà hơi vào mõm con Na-rư. Không biết làm vậy có hiệu quả không, nhưng trong bụng ông nghĩ sẽ có hiệu quả, Na-rư sẽ khá lên. Ông làm như vậy gần 20’ rồi quay về tăng xá, cầm đèn dầu ra. Ông muốn soi xem vết thương mới của Na-rư ở đâu, còn chảy máu không. Nếu vẫn chảy máu thì cần phải cầm máu, rồi đi gọi Tạng y Tô-y-thê.

Cha tôi đặt đèn dầu xuống đất, thấy cơ man nào là máu. Thực ra máu đã cầm, nhưng dưới ánh đèn dầu leo lắt, ông thấy như máu vẫn chảy. Cha tôi thốt lên: “Trời ơi, máu chảy như suối thế này!” Ông vội vàng băng bó cho nó. Không có băng vải, cha tôi xé áo ra, xé vạt trước và 1 ông tay ra băng bó cẩn thận cho Na-rư.

Băng bó xong, cha tôi ngây người ta ngồi trên đất nghĩ miên man: “Ngao đen Na-rư thật là con chó tuyệt vời. Pa-ơ-chiu-chu bảo nó cắn chết Cang-rư-sân-cơ, nó dứt khoát không cắn. Nó nói: “Bao ta cắn chết thì ta chết cho mà xem!” Thế là nó anh dũng đập đầu vào tường khắc kinh Ma-ni. Tường khắc kinh Ma-ni là tường gì? Là tường cầu phúc cầu an. Dù cứng đến đâu cũng là mềm. Vậy dù Na-rư có dập đầu vào tường cũng không thể chết được. Tạng Cha-xi nói Ngao tạng có 7 mạng, nghĩa là phải chết 7 lần mới chết thật. Bây giờ nó chết mấy lần rồi nhỉ? Nhiều nhất là 2 lần. Nó không chết đâu, chỉ đập đầu bị thương thôi. Bị thương có gì mà sợ. Người và chó đều ăn gì bổ nấy. Nó bị thương ở đầu, ngày mai nhờ Tạng Cha-xi xin 1 cái thủ dê hoặc bò ăn rồi nó sẽ chóng lành lại. Hơn nữa trong chùa còn có Tạng y Tô-y-thê. Tô-y-thê có thể sánh với Hoa Đà nổi tiếng của người Hán, cả 2 đều xứng danh “Diệu thủ hồi xuân” (cứu người sống lại).

Trong khi cha tôi đang nghĩ lung tung, trong bóng đêm có 1 đôi mắt đang dõi theo ông. Đó là lạt ma già Tuân-ca, chuyên vứt thức ăn cho chó lãnh địa. Kỳ thực vị lạt ma đã có mặt từ lâu. Ông trốn sau bức tường khắc kinh Ma-ni thương xót nhìn trộm con Ngao đen Na-rư hồn sắp lìa khỏi xác. Nhưng Tuân-ca không thấy hồn con Na-rư bay lên trời, chỉ thầy hành động của cha tôi. Vị lạt ma già cảm động đến nỗi nước mắt giàn giụa. Song ông lại cảm thấy cha tôi xuất hiện vào lúc này thật không thích hợp chút nào. Tuân-ca không đừng được, ông đi ra từ sau bức tường, vừa lấy tay ra hiệu vừa nói khẽ với cha tôi điều gì đó, ý là: “Hán Cha-xi, hãy mau rời khỏi đây đi. Linh hồn muốn bay lên trời cần phải được yên tĩnh. Đừng hà hơi tiếp sức nữa, làm như vậy Hán Cha-xi sẽ hít vào linh hồn của Na-rư, kiếp sau anh sẽ làm 1 con Ngao đen.” Cha tôi không hiểu hết câu nói của vị lạt ma già. Nếu hiểu được, theo tính cách của cha tôi, ông ắt sẽ trả lời: “Làm con Ngao đen có gì không tốt? Nó dũng cảm thiện chiến, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Nó trung thành, đáng tin cậy, coi tình nghĩa nặng tựa Thái Sơn. Nó là nghĩa sĩ trong loài chó, là đấng quân tử trong giới động vật.” Đáng tiếc là cha tôi không hiểu hết, chỉ đoán được rằng Tuân-ca muốn cha tôi mau rời khỏi đây.

Cha tôi đứng lên nói: “Được, tôi đi ngay. Hãy giúp tôi khiên con Na-rư vào trong tăng xá. Nằm đây sương đêm sẽ làm ướt vết thương của nó.” Ông vừa nói vừa ôm đầu con Ngao đen Na-rư. Vị lạt ma già Tuân-ca bỗng rú lên 1 tiếng kinh ngạc, giữ chặt lấy tay cha tôi. Cha tôi rất ngạc nhiên, chưa hiểu ý của Tuân-ca thì vị lạt ma già lại rú thêm 1 tiếng kinh ngạc hơn nữa, vì Tuân-ca bỗng nghe thấy tiếng rên khe khẽ của Na-rư.

Ngao đen Na-rư rên khẽ lắm, khẽ đến nỗi như không khí đang lưu động. Nhưng vị lạt ma già đã nhạy bén nắm bắt được. Ông vui mừng ngạc nhiên khôn xiết: “Ôi, con Na-rư sống lại rồi! Nó sống lại rồi!” Vừa dứt lời, vị lạt ma già quỳ xuống trước mặt cha tôi, lạy như tế sao. “Chi-ô-a, Hán Cha-xi, chi-ô-a Hán Cha-xi.” Tiếng Tạng nghĩa là nói Hán Cha-xi là vị phật sống. Theo vị lạt ma già này, Ngao đen Na-rư đã chết rồi, cha tôi đã cứu sống nó trở lại. Mấy hôm trước cha tôi đã cứu sống Cang-rư-sân-cơ mà kiếp trước là sư tử núi tuyết A-ni-ma-chinh. Hôm nay ông lại cứu sống Ngao đen Na-rư. Nếu không phải là phật chuyển thế, làm sao có thể làm ra kỳ tích cứu những sinh mạng đã chết sống lại.

Nhưng cha tôi không biết những ý nghĩ của vị lạt ma già. Ông nhìn xung quanh rồi hỏi: “Lạt ma lạy ai thế ạ?” Hỏi xong cha tôi vội đến quỳ cùng hướng với Tuân-ca, cũng lạy như tế sao. Cha tôi cho rằng trong đêm tối mịt mù kia chắc vị lạt ma đã nhìn thấy thần linh hoặc ma quỷ nào đó, vì vậy mới căng thẳng và tôn kính như vậy. Nhưng Tuân-ca lại quay gối lại kính lạy cha tôi 1 lạy. Lúc này cha tôi mới vỡ lẽ, vội kéo vị lạt ma già đứng dậy hỏi: “Sao? Sao? Tôi làm sao?”

Lúc trời gần sáng, cha tôi và vị lạt ma già Tuân-ca khiên con Ngao đen Na-rư vào trong tăng xá. Cha tôi ngồi xổm bên cạnh Na-rư và nói với Tuân-ca: “Già mau đi mời Tạng y Tô-y-thê đến ngay.” Tuân-ca nghe trong câu tiếng Hán cha tôi nhắc đến Tô-y-thê liền hiểu ngay, vội quay đi.
 

ohcuey

Member
Từ nãy tới giờ Cang-rư-sân-cơ vẫn chăm chú nhìn cha tôi. Nó đi đến dùng răng kéo áo cha tôi, rồi đi đến cửa. Thấy cha tôi không có ý đi theo, nó lại quay lại kéo tóc cha tôi. Cha tôi bị nó kéo đau kêu lên: “Sao mày cắn tao?” Cang-rư-sân-cơ lại vẫy đuôi đi về phía cửa. Lần này cha tôi đã hiểu nó muốn gì. Cha tôi rầu rĩ nói: “Ta hiểu rồi, ta hiểu Cang-rư-sân-cơ muốn gì rồi. Muốn đi tìm 7 đứa trẻ Ama Thượng, ngăn người Chia-cu Tây chặt bàn tay của chúng phải không? Nhưng chúng ta tìm họ ở đâu đây? Cứ cho rằng tìm thấy họ rồi thì làm gì được nào? Người Chia-cu Tây có chịu nghe chúng ta không?” Cha tôi vừa nói dứt lời, bỗng ông ý thức được rằng tìm được 7 đứa trẻ không khó, vì đã có Cang-rư-sân-cơ. Ngăn người Chia-cu Tây chặt bàn tay của 7 đứa trẻ cũng chưa chắc đã không có hy vọng. Cùng lắm thì thí mạng mình và mạng Cang-rư-sân-cơ vào, chẳng lẽ người Chia-cu Tây lại không động lòng? Nghĩ vậy, cha tôi vụt đứng dậy.

Cha tôi là 1 người bản lĩnh như vậy. Đôi lúc ông có những ý nghĩ táo bạo. Hễ nghĩ là làm ngay tức khắc, bất luận những hành động đó mạo hiểm đến đâu. Cha tôi tuyệt nhiên không có cảm giác nặng nề do dự, nhìn trước ngó sau. Ông luôn tiến về phía trước. Cũng như con Ngao Cang-rư-sân-cơ khi xung phong ra trận, không mảy may nghĩ đến gặp nguy hiểm bỏ cuộc, gặp nạn giữ thân. Sau này cha tôi nói: “Cha kiếp trước chắc chắn là 1 con Ngao Tạng. Nếu không sao lại yêu thích chó, đặc biệt là Ngao Tạng như vậy? Chó làm gì cha cũng muốn làm theo. Cha và chó đều thích nhau. Cha cảm thấy chó có nhân tính, chó cảm thấy cha có khuyển tính. Rốt cuộc là khuyển tính tốt hay nhân tính tốt? Cha thấy cả 2 đều tốt như nhau.”

Sau khi gửi gắm con Na-rư cho Tạng y Tô-y-thê và vị lạt ma già Tuân-ca vừa chạy đến, cha tôi và Cang-rư-sân-cơ cùng nhau xuất phát. Vết thương của Cang-rư-sân-cơ chưa lành hẳn, nó chỉ có thể đi chầm chậm. Cả 2 xuyên qua mười mấy cái ngõ hẹp, vòng chỗ này, ngoặt chỗ kia, đến tận gần sáng mới đến được điện Minh Vương Cha-chang của phát Mật Tông, toạ lạc tại nơi cao nhất của chùa Chia-cu Tây.

Phương xa ở núi Tuyết trời bắt đầu hửng sáng. Núi Tuyết đón nhận tia sáng bình minh sớm nhất, cùng với ánh sáng băng tuyết tinh khiết của mình, đem đến trái đất ánh bình minh đầu tiên. Cha tôi và Cang-rư-sân-cơ dừng chân, ngẩng đầu nhìn núi Tuyết dần sáng lên long lanh như pha lê, cùng hít thở thật sâu hơi thở của núi Tuyết toả ra mát lạnh trong mùa hè thảo nguyên xanh biếc. Cả 2 lại tiếp tục đi. Cang-rư-sân-cơ dẫn cha tôi đến dốc núi sau điện Minh Vương, nơi đó có thể nhìn thấy động Giáng Diêm Vương.

Trước động, cạnh vách núi cheo leo trên 1 khoảng đất bằng phẳng có mười mấy người đang lố nhố đứng đó. Cha tôi và Cang-rư-sân-cơ nhận ra trong số đó có vị lạt ma gậy sắt Tạng Cha-xi đang giữ cửa động và đang nói gì đó với ai đấy. Bầu không khí nơi đó xem ra có cái gì đó không tốt lành lắm. Cang-rư-sân-cơ cảm nhận được, nó khe khẽ sủa 1 cách mệt nhọc. Cha tôi vội đi thật nhanh trước Cang-rư-sân-cơ. Tạng Cha-xi thấy cha tôi liền hỏi bằng tiếng Hán: “Hán Cha-xi, anh đến đây làm gì?” Cha tôi trả lời: “Anh không cần phải hỏi tôi, hãy xem đi, sau tôi là sư tử núi tuyết Cang-rư-sân-cơ, anh đủ biết chúng tôi đến làm gì rồi.”

Cang-rư-sâ n-cơ dừng chân trước 1 lối rẽ, khứu giác cực nhạy của nó mách bảo rằng chủ của nó, 7 đứa trẻ Ama Thượng tuy đã đến đây, nhưng giờ không có mặt ở đây nữa. Nhưng cha tôi không biết. Ông đến khoảng đất bằng phẳng nói: “Anh đưa 7 đứa trẻ đi đâu rồi?” Vừa nói dứt lời cha tôi định đẩy cửa động Giáng Diêm Vương. Tạng Cha-xi lấy gậy sắt chắn ngang cửa động: “Trừ Tôn Giáng diêm ma và chúa địa ngục Hộ Pháp Tôn Thất Bát, đại ngũ sắc Man-thu-lô và vị lạt ma canh giữ động ra, không ai được phép vào đó. Người mà Hán Cha-xi muốn tìm không có ở đây.” 1 người trung niên đầu đội mũ len cao cổ, người cuốn áo bào Tạng bằng da hoẵng, cổ đeo 1 chuỗi hạt mã não màu đỏ nói với cha tôi bằng tiếng Hán: “À, anh là Hán Cha-xi? Nghe nói anh đã cứu mạng sư tử núi tuyết. Dân trên thảo nguyên đều truyền tụng anh là Hán Bồ Tát đến từ phương xa, đến mưu cầu hạnh phúc cho thảo nguyên Chia-cu Tây chúng tôi.”

Cha tôi vẻ thăm dò chăm chú nhìn người trung niên: “Xin hỏi ngài là ai?” Người trung niên trả lời: “Tôi là quản gia của tù trưởng Suô-lang-uang-tuôi, tù trưởng bộ lạc sông Dã-la. Tên tôi là Chi-mây. Lão gia chúng tôi nói rồi, trong số những người bị kẻ thù Ama Thượng giết chết và làm bị thương nhiều nhất là người của bộ lạc sông Dã-la, cho nên chặt bàn tay của kẻ thù phải để bộ lạc chúng tôi làm. Vừa rồi tôi đã đến Điện thần Hộ Pháp thỉnh ý của Thiên Mẫu Cát Tường. Ngài đã rắc sự chấp thuận của ngài lên trời, rắc thành những tiếng chuông kim cương trong trẻo thành thót. Nhưng lạt ma gậy sắt không tin lời tôi. Ông bảo tiếng chuông kim cương trên trời là sự cầu phúc của Thiên Mẫu ban cho tất cả mọi người. Ông ấy dứt khoát không cho tôi đem 7 đứa trẻ Ama Thượng đi.”

Cha tôi nói: “Thôi, mọi người khoan hãy tranh giành nhau, phải tìm 7 đứa trẻ Ama Thượng trước. Hiện chúng ở đâu?” Quản gia Chi-mây nói: “Lạt ma gậy sắt đã giấu chúng đi rồi.” Lạt ma gậy sắt Tạng Cha-xi nói: “Trời đã sáng, mặt trời sắp chiếu vào chùa. Trên núi cũng sẽ tràn đầy ánh sáng, không có bóng u ám giành cho tội ác. 7 đứa trẻ Ama Thượng không phải 7 con kiến nhỏ bé, tôi giấu chúng đi đâu được? Kẻ thù Ama Thượng chắc đã bị ai cướp đi rồi. Lúc này chắc chúng đã bị chặt tay đuổi về Ama Thượng rồi.”

Quản gia Chi-mây không khách sáo nói thẳng: “Tôi không tin! Ai cướp được người trong tay lạt ma gậy sắt chứ? Tốt hơn ông nên tránh ra để chúng tôi vào động Giáng Diêm Vương tìm xem sao.”
Tạng Cha-xi thở dài, thu gậy sắt vào, tránh sang 1 bên. Quản gia Chi-mây hướng vào cửa động nằm thẳng, úp người xuống đất lạy 1 lạy dài bằng cả thân mình rồi đứng lên đẩy cửa đi vào động. Cha tôi vội bắt chước Chi-mây, cũng lạy 1 lạy rồi đứng dậy định đi vào. Tạng Cha-xi vội kéo cha tôi lại nói nhỏ: “Sao Bạch chủ nhiệm Bạch-mã-u-chinh của uỷ ban công tác Chia-cu Tây không thấy đến? Chỉ có lời của uỷ ban công tác mới có trọng lượng lọt được vào tai tù trưởng.” Cha tôi nói: “Chủ nhiệm không đến thì tôi đã đến. Tôi đến để ngăn các anh chặt tay bọn trẻ.”

Tạng Cha-xi lắc đầu, nhìn con Cang-rư-sân-cơ đang vừa đi vừa dừng lại trên con đường mòn về hướng thảo nguyên dưới chân động Giáng Diêm Vương. Vị lạt ma thần sắc u sầu nói với cha tôi: “Anh đi đi, Hán Cha-xi, hãy theo chân sư tử núi tuyết, anh sẽ tìm thấy 7 đứa trẻ Ama Thượng.” Cha tôi hỏi lại: “Bọn trẻ đi thật rồi?” Tạng Cha-xi im lặng không nói gì.
 

ohcuey

Member
Đầu tiên 7 đứa trẻ Ama Thượng bị lạt ma gậy sắt Tạng Cha-xi và mấy người chăn cừu đem về nhốt trong động Giáng Diêm Vương. Những người chăn cừu là đại diện của mấy bộ lạc. Mấy bộ lạc này đều muốn họ được thực hiện hình phạt chặt tay bọn trẻ, vì hầu như tất cả các bộ lạc đều có người chết do tay người Ama Thượng. Lạt ma gậy sắt Tạng Cha-xi nói với họ: “7 kẻ thù Ama Thượng này bị bắt tại chùa Chia-cu Tây, theo quy định ta có quyền phán quyết sẽ trao chúng cho bộ lạc nào. Nhưng hiển nhiên quyết định của ta sẽ dẫn đến tranh chấp giữa các bộ lạc. Vì vậy quyền phán quyết đó ta sẽ để ngài hộ pháp uy nghiêm của thảo nguyên quyết định. Bây giờ các người hãy về đi, về xin tù trưởng hoặc quản gia của các người đến điện thần hộ pháp thắp hương cầu xin Thiên Mẫu Cát Tường. Ngài cho phép bộ lạc nào làm tiên phong thực hiện sự phục thù này thì bộ lạc đó mới được mang người đi.”

Những người chăn cừu nghe rồi quay về rất nhanh. Mấy phút sau, lạt ma gậy sắt Tạng Cha-xi mở cửa động, căng thẳng thúc giục bọn trẻ: “Chạy nhanh đi! Chúng mày chạy nhanh đi cho tao! Mau trở về thảo nguyên Ama Thượng chết tiệt của chúng mày. Đừng bao giờ bén mảng đến thảo nguyên Chia-cu Tây nữa.” 7 đứa trẻ Ama Thượng chạy ùa ra khỏi động.

Nhưng bây giờ Tạng Cha-xi lại thấy hối hận, hối hận vì mình đã thả 7 kẻ thù Ama Thượng. Tạng Cha-xi biết tù trưởng các bộ lạc thảo nguyên Chia-cu Tây sẽ không tha thứ cho hành động phản bội của ông. Vì 1 trong những kỷ luật sắt của thảo nguyên là trừng phạt kẻ thù và kẻ phản bội. Ông là người chấp pháp của thảo nguyên, thả kẻ thù đi nghĩa là chấp pháp lại phạm pháp. Nếu uỷ ban công tác không đứng ra nói hộ Tạng Cha-xi thì ông sẽ phải chịu hình phạt nghiêm khắc dành cho kẻ phản bội. Nhẹ thì bị đuổi khỏi chùa Chia-cu Tây, bị tước đi tư cách lạt ma suốt đời, nặng thì bị chặt tay, mà chặt cả 2 tay, để suốt đời mất đi khả năng mưu sống.

Thảo nguyên mênh mông như những làn sóng đẹp như mơ, nhè nhẹ lướt qua. Cang-rư-sân-cơ dẫn cha tôi đến nơi ánh mặt trời ban mai trong suốt như núi Tuyết. Ánh mặt trời kết thành những tinh thể trong như pha lê, nhảy múa trong không gian điểm chút màu xanh lam. Bầu không khí như vậy thật sự khiến vạn vật sinh linh hân hoan vui mừng. Nhưng cha tôi và Cang-rư-sân-cơ chẳng vui chút nào. Suốt 1 đêm lăn lộn khiến cả 2 đã kiệt sức, đặc biệt là Cang-rư-sân-cơ. Nó buộc phải đi 1 đoạn lại nằm xuống nghỉ 1 lúc. Nó rất mệt, cũng rất đau khổ. Cái đau do vết thương chưa lành cộng thêm sự đau khổ không gặp được chủ khiến nó vừa đi vừa khóc u..u… làm cha tôi cũng mủi lòng rơi lệ.

Nhưng dù Cang-rư-sân-cơ mệt nhọc đau khổ đến đâu, song khát vọng tìm kiếm chủ nhân của nó trước sau không hề thay đổi. Nó đi 1 cách kiên trì, lúc đầu đi về hướng đông núi Tuyết, sau lại đi về hướng Nam, cuối cùng thay đổi phương hướng đi về hướng Tây. Cha tôi thấy rất lạ, nó đi 1 vòng tròn, chẳng lẽ 7 đứa trẻ Ama Thượng lại quay về? Hay là Cang-rư-sân-cơ đánh hơi nhầm, lẫn lộn giữa mùi cũ và mùi mới?

Khi cha tôi đang ngờ vực suy đoán thì bỗng Cang-rư-sân-cơ trở nên bồn chồn không yên. Nó muốn sủa thật to những không đủ sức, nhe cả 2 hàm răng ra đến lộ cả lợi. Nó vươn dài cổ sải bước thật nhanh. Thực ra lúc này nó đã đuối sức lắm rồi, bước chân càng lúc càng chậm, gần như giậm chân tại chỗ. Cha tôi bảo nó: “Nghỉ chút đi, Cang-rư-sân-cơ, mày đi không nổi nữa đâu.” Nói xong cha tôi ngồi phệt xuống. Nhưng nó không chịu nằm, hướng về phía trước sủa 1 tiếng trầm. Cùng lúc đó, cha tôi cũng nghe thấy tiếng vó ngựa, ngẩng đầu lên thấy mấy bóng người cưỡi ngựa từ chân trời tràn đầy ánh nắng phi như bay đến gần. Bóng các kỵ sĩ từ cánh phải phía trước vùng cỏ phi lên. Trên bãi cỏ bằng phẳng xuất hiện 1 hàng kỵ sĩ trông như chiếc kéo của ông trời cắt ra 7 bóng ngựa, trên lưng mỗi con ngựa có 1 người lớn, 1 trẻ con. Cang-rư-sân-cơ đã đánh hơi và nhìn thấy những bóng đó sớm hơn cả. Cha tôi hiểu ra: chủ nhân của nó, 7 đứa trẻ Ama Thượng bị các kỵ sĩ bắt mất rồi.
Tướng cướp Chia-ma-chua, thủ lĩnh quân sự của bộ lạc Mục Mã Hạc dẫn các kỵ sĩ đi bắt 7 đứa trẻ, kẻ thù Ama Thượng mang đi.

Tù trưởng Ta-cơ-niê-y của bộ lạc Mục Mã Hạc nghe thuật lại vị lạt ma gật sắt Tạng Cha-xi quy định các tù trưởng hoặc quản gia các bộ lạc phải đến điện Thần Hộ Pháp thắp hương thỉnh cầu Thiên Mẫu Cát Tường, ngài chấp thuận bộ lạc nào được hành hình thì bộ lạc đó mới được đem người đi. Ta-cơ-niê-y biết ngay chắc chắn Tạng Cha-xi sẽ thả kẻ thù Ama Thượng. Điều đó rất đơn giản: nếu Tạng Cha-xi thật tâm muốn để người Chia-cu Tây phục thù thì sẽ chia 7 đứa trẻ ra, như vậy bộ lạc nào cũng được hành hình, hà tất phải quấy rầy Thiên Mẫu Cát Tường? Đại hộ pháp Thiên Mẫu Cát Tường rất nhân hậu và rộng lòng yêu thương, nếu không chứng minh được 7 đứa trẻ Ama Thượng là ma quỷ do kẻ thù sai phái đến thì Thiên Mẫu làm sao có thể cho phép người Chia-cu Tây chặt tay bọn trẻ, dù bàn tay đó là của kẻ thù. Đương nhiên cho dù không được Thiên Mẫu Cát Tường cho chỉ thị rõ ràng thì các bộ lạc cũng có thể đến thương lượng với thần núi và chiến thần bảo vệ các bộ lạc để việc chặt tay được danh chính ngôn thuận. Nhưng nếu khi đó được sự chấp thuận của thần linh thì cũng chẳng còn tay đâu mà chặt nữa. Không khẩn trương lên e rằng kẻ thù Ama Thượng đã cao chạy xa bay khỏi thảo nguyên Chia-cu Tây rồi.

Người tù trưởng tài trí Ta-cơ-niê-y của bộ lạc Mục Mã Hạc 1 mặt cử người đến núi tuyết Long Bảo tế lễ bẩm báo với thần núi Hạc cổ đen, đến thảo nguyên Long Bảo Trạch tế lễ bẩm báo với chiến thần, mặt khác sai tướng cướp Chia-ma-chua dẫn các kỵ sĩ đi đuổi bắt 7 kẻ thù Ama Thượng.

Tin tức như có cánh lan khắp thảo nguyên rất nhanh: 7 kẻ thù Ama Thượng đã được lạt ma gậy sắt Tạng Cha-xi thả đi mất rồi. 1 tin nữa loan đi càng nhanh: hình phạt chặt tay sẽ diễn ra ở bờ sông Dã-la dưới núi nhà vọng gác. Những cư dân du mục ai đến được đều đã đến, đặc biệt là người của bộ lạc Mục Mã Hạc.

Nơi trú mục của bộ lạc Mục Mã Hạc là thảo nguyên Long Bảo Trạch dưới chân núi tuyết Long Bảo. Dân bộ lạc đều tụ tập dưới núi vọng gác để xem hành hình, vì núi vọng gác là núi của tất cả các bộ lạc trên thảo nguyên. Khoảng 100 năm trước, để chống lại những kẻ xâm lược, trong đó có các kỵ sĩ Ama Thượng và bảo vệ chùa Chia-cu Tây thiêng liêng, cũng vì sự an toàn của các tù trưởng và gia quyến của họ, tất cả tù trưởng của các bộ lạc đều lấy danh nghĩa của bộ lạc mình xây dựng nhà vọng gác tại đây. Từ đó dần dần trở thành thông lệ, phàm những hoạt động liên quan đến chống địch ngoại xâm, liên quan đến ban thưởng, trừng phạt, tế lễ, xuất quân… tất cả các bộ lạc đều cử hành dưới núi vọng gác.

Trước đài hành hình bỗng náo nhiệt hẳn lên. Người đông, chó cũng nhiều. Chó con nô đùa chạy nhảy khắp nơi. Chó đến tuổi yêu đương thì chạm mũi, liếm lông nhau. Chó quen thì hỏi thăm nhau, chó lạ thì chào hỏi làm quen… Chó ở đây khác chó ở nơi khác. Chó ở đây bất kể là lạ hay quen đều không bao giờ mặt xưng mày xỉa, hằm hè, đánh nhau. Vì hơi của đối phương đều báo cho chúng biết: chúng ta đều thuộc về thảo nguyên Chia-cu Tây cả. Đối với chó Tạng, đặc biệt là Ngao Tạng, thảo nguyên Chia-cu Tây có 1 hơi thở đặc biệt, tuyệt đối khác với hơi của thảo nguyên bên ngoài. Ngay cả cha tôi cũng cảm nhận được điều đó. Sau này cha tôi nói: “Đây là thảo nguyên Ngao, ngay cả không khí cũng có mùi khai của Ngao. Mùi đó một khi đã ngửi quen rồi thấy dễ ngửi. Nó có vị mặn mặn, gần giống không khí tanh mằn mặn của tôm cá ngoài biển vậy.”
 

ohcuey

Member
Tình hình là máy tính nhà mình đang bị virut phá tan nát cái windows rồi. Có thể phải gián đoạn tiếp 1 thời gian chờ sửa :(
 

ohcuey

Member
sao chị không dùng máy ảnh chụp mấy cái copy cái là xong luôn đỡ phải gõ
Như vậy thì dung lượng sẽ rất lớn. Coi như chụp 2 trang 1 tấm ảnh thì phải đến gần 300 tấm, mà độ phân phải phải tương đối để có thể đọc được chữ. Hơn nữa khi gõ ra nếu sau này muốn làm ebook hay copy về đọc thì sẽ tiện hơn là hàng trăm tấm hình chữ mờ mờ ảo ảo.
 

SOI-LANG-THANG

Cấm truy cập vì vi phạm nội quy
Như vậy thì dung lượng sẽ rất lớn. Coi như chụp 2 trang 1 tấm ảnh thì phải đến gần 300 tấm, mà độ phân phải phải tương đối để có thể đọc được chữ. Hơn nữa khi gõ ra nếu sau này muốn làm ebook hay copy về đọc thì sẽ tiện hơn là hàng trăm tấm hình chữ mờ mờ ảo ảo.
cpu của bạn vẫn chưa hết virus à? trời ơi mấy ngày không được đọc mà vật vã ghê gớm :(
 

ohcuey

Member
Cha tôi và Cang-rư-sân-cơ khó khăn lắm mới đến được dưới chân núi vọng gác. Khi nhìn từ xa thấy khán đài hành hình thì hình phạt chặt tay đã sắp bắt đầu.

Đài hành hình được xếp bằng những phiến đá, trên dựng 1 hàng giá đỡ bằng gỗ thô, trên giá gác 1 hàng vòng sắt, dây thừng, nhìn biết ngay là để trói và treo người. Trước và sau giá đỡ là 1 cái thớt gỗ to vừa dầy vừa nặng, có thể để người nằm lên trên để chém. 7 đứa trẻ Ama Thượng đã bị 7 người đàn ông cao to lực lưỡng áp giải lên đài. 2 đao phủ đeo mặt nạ hình đầu Ngao uy vũ đứng trên đài, khư khư ôm trong lòng con dao chặt tay hình đầu lâu. Dưới ánh mặt trời giữa trưa, lưỡi dao sáng lóa khiến ngực đao phủ cũng ánh lên màu bạc chói mắt. 7 pháp sư đội mũ đỏ của bộ lạc Mục Mã Hạc mỗi người trong tay cầm 1 cây kích, đọc to những câu kinh và thần chú. 7 người khác đội mũ đen, mỗi người tay cầm 1 cái trốn hình đầu người gõ chầm chậm, trầm trầm. Ngoài ra còn 7 mụ phù thủy đội mũ vàng, tay múa gậy thiết ma, vừa đi vừa nhảy múa vòng quanh đài hành hình.

Cha tôi dừng lại, Cang-rư-sân-cơ cũng dừng lại đứng xa. Cha tôi và Cang-rư-sân-cơ đều ý thức được rằng không thể cứ đi như thế mà vào được. Có thể lách qua người đi vào, nhưng còn đàn chó thì sao? Chó Tạng, đặc biệt là Ngao Tạng của thảo nguyên Chia-cu Tây sẽ xé tan con Ngao đực sư đầu Cang-rư-sân-cơ của thảo nguyên Ama Thượng này ra, rồi chim ưng và chim ưng trọc đầu sẽ rỉa xác nó không sót 1 mảnh thịt. Người và chó đều đứng ngây ra, không biết nên làm thế nào. Cang-rư-sân-cơ mệt mỏi ngẩng đầu lên, nét mặt buồn thảm nhìn 7 đứa trẻ Ama Thượng đang đứng trên đài hành hình. Nó ý thức được mình đã lực bất tòng tâm. 4 tâm nó mềm nhũn, khụy xuống. Nó ngã xuống đất. Cha tôi ôm lấy nó, nhìn vào đôi mắt đẫm lệ của nó nói: “Cang-rư-sân-cơ kiệt sức rồi sao? Cố lên, đừng nản. Chúng ta hãy nghĩ cách xem sao.” Cha tôi nhìn quanh như cầu viện. Ông nhìn thấy không xa có 1 cái nhà bạt, trước bãi cỏ nhà bạt có phơi mây tấm da bò chưa khô hẳn, trên da bò có mấy con chim vành khuyên đang nhảy nhót mổ thức ăn. Cha tôi nghĩ 1 lúc rồi nói: “Bây giờ phụ thuộc vào mày đấy, Cang-rư-sân-cơ. Chỉ cần mày đi nổi, có thể 2 ta sẽ đến được đấy.”

Khả nặng hiểu biết của Cang-rư-sân-cơ làm cha tôi thực sự kinh ngạc. Cha tôi ra kéo lấy 1 tấm da bò rồi vừa trùm lên người mình làm mẫu thì Cang-rư-sân-cơ cũng đứng dậy ngay. Cha tôi lấy tấm da bò phủ kín người Cang-rư-sân-cơ, chỉ chừa lại đôi mắt. Cha tôi hỏi: “Mày đi được chứ?” Nó dùng hành động trả lời cha tôi “Được.” Cả 2 cùng đi về phía trước. Cha tôi bước đi trước, nó đi theo sau cúi đầu nhìn theo chân cha tôi đi chầm chậm. Thoáng nhìn, đặc biệt là chó thoáng nhìn, chỉ thấy 1 con bò đen đang di động. Bọn chó chỉ ngạc nhiên: “Sao trên người con bò này lại có cả mùi chó nơi khác nhỉ? Hay nó bị chó nơi khác cắn? Không phải cắn bị thương mà là cắn mất đầu. Con bò không có đầu này sao lại đi được nhỉ???”

Ơn trời đất, Cang-rư-sân-cơ cứ đi như vậy. Nó chưa khụy xuống. Có lẽ nó sắp khụy xuống rồi. Đối với cơ thể suy nhược của nó, ngay cả bộ lông dầy rậm vàng óng của chính nó cũng đã là gánh nặng rồi, làm sao còn đủ sức đội lốt bò nặng trịch thế này. Nhưng nó vẫn kiên trì không để mình khụy xuống. 7 chủ nhân bé nhỏ Ama Thượng của nó đang cần cứu mạng khiến nó vẫn đứng thẳng, vẫn đi như 1 kỳ tích. Nó và cha tôi an toàn qua được đàn chó, trong đó có rất nhiều con Ngao Tạng thông minh, cũng đã an toàn qua được đám đông con người còn thông minh hơn. Người đương nhiên nhận ra đấy là 1 con chó chứ không phải con bò, nhưng họ không hiểu sao chó lại phải đội lốt bò mà đi. Họ tưởng tế lễ chặt tay kẻ thù cần có sự hóa trang như vậy.

Càng tiếng gần tới bục hành hình, càng gần đến giờ phút nguy hiểm nhất. Không hiểu sao có mấy con Ngao Tạng to cao tách hẳn ra khỏi bầy chó lãnh địa, đứng chắn ngang lối đi của cha tôi và Cang-rư-sân-cơ. Trong số đó có Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao với bộ lông trắng tinh. Bất giác cha tôi rùng mình, Cang-rư-sân-cơ cũng rùng mình. Bước đi của cả 2 một trước một sau chậm hẳn lại. May con Cang-rư-sân-cơ đột lốt da bò chưa ngã xuống trong run rẩy. Với sự kiên nhẫn mà ngay cả bản thân nó cũng không ngờ, nó vẫn chầm chậm di động như cũ, đi như những con bò vẫn được đàn chó che chở, không do dự đi thẳng đến chỗ bầy Ngao Tạng đang chắn đường. Ngao Vương đã nhận ra cha tôi. “Người này chính là người ngoại lai đã cứu Cang-rư-sân-cơ mang vào trong tăng xá. Hắn thật đáng ghét. Nhưng hắn cũng rất giỏi. Qua thái độ của Ngao đen Na-rư đối với hắn, Ngao Vương biết mình không được phép cắn hắn. Hắn không trả thù việc Ngao đen Na-rư cắn chết con ngựa của hắn, cắn hắn bị thương, trái lại còn thu phục được trái tim của Na-rư. Rõ ràng là trời sinh ra người ấy là chủ nhân lý tưởng của Ngao Tạng.” Nó thấy người chủ lý tưởng này bỗng nhìn nó tươi cười rồi vừa hát vừa múa, vung tay đá chân điệu múa Tây Tạng. Ngao Vường nhìn 1 cách hiếu kỳ. Đứng cạnh nó là con Ngao đen Cô-rư, Ngao đực xám già và mấy con Ngao Tạng khác. Chúng nhìn cha tôi còn hiếu kỳ hơn cả Ngao Vương. Cha tôi càng hát múa nhiệt tình hơn.

Cứ như vậy, đàn Ngao Tạng chắn đường đáng sợ kia quên bẵng “con bò” vì hiếu kỳ. Khi cha tôi múa may quay cuồng như vậy, Cang-rư-sân-cơ vẫn đội lốt bò căng thẳng chầm chậm tiến sát gần đàn chó chắn đường. Ngao Vương và những con Ngao Tạng khác không thèm để ý đến nó. Bò thì lúc nào chúng chẳng thấy, chán chết đi được, có nhìn thêm cũng chẳng thiết. Chúng ngước mắt lên nhìn đôi tay giơ cao đang múa may của cha tôi. Sau đó cha tôi cởi áo ra múa, sột soạt sột soạt, thu hút đôi mắt chúng. Khi cha tôi không múa nữa cũng là lúc Cang-rư-sân-cơ đã đi qua, khoảng cách nhanh chóng kéo dài. Mối hiểm nguy đang được loại trừ. Ngao Vương và chúng bạn của nó với khoảng cách càng lúc càng xa khó phân biệt được con vật đội lốt bò chứ không phải bò thật.

Cuối cùng cha tôi và Cang-rư-sân-cơ cũng đến được dưới đài hành hình. Ở đây không có chó, chỉ toàn người là người. Mọi người đang chìm đắm trong lễ nghi trang nghiêm. Ai nấy không biểu lộ tình cảm gì, dủ chỉ 1 chút ngạc nhiên. Cha tôi kéo tấm da bò trên mình Cang-rư-sân-cơ xuống, vừa bế vừa đẩy nó lên đài hành hình.

Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao từ xa nhìn thấy vô cùng sửng sốt. Tất cả Ngao Tạng và chó Tạng lâu la đã từng chú ý tới “con bò” này đều sửng sốt. Sau đó là tiếng sủa ầm ĩ của đàn chó. Riêng Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao không sủa. Nó nhớ lại cảnh cha tôi và Cang-rư-sân-cơ đi qua lúc nãy. Trong người nó có 1 cảm giác khó chịu, như cảm giác đói bụng đang lan tỏa. Nó không nghĩ rằng mưu kế quái quỷ ấy là do con người nghĩ ra. Nó cho rằng Cang-rư-sân-cơ lọt qua được mắt nó hoàn toàn nhờ vào tố chất và khả năng phi phàm của 1 con Ngao Tạng xuất sắc, thông minh lanh lợi và gan dạ mưu lược phi thường. Ngao Vương thích loại Ngao Tạng này, đồng thời lại cảnh giác. Nếu loại Ngao Tạng này thuộc về thảo nguyên mình suốt đời canh gác thì nó chắc chắn sẽ là 1 tướng tài, tiêu diệt dã thú bảo vệ người và tài sản. Nhưng nếu nó đến từ thảo nguyên của kẻ thù thì nó sẽ trở thành mối đe dọa lớn không để thảo nguyên Chia-cu Tây được bình yên. Dứt khoát phải đuổi nó đi. Không! Không phải đuổi mà là cắn chết, phải cắn chết nó. Ngao Vương tức giận nghĩ vậy. Nó không còn giữ được bình tĩnh, từ cuống họng gầm lên mấy tiếng trầm đục.

Vừa bước chân lên đài hành hình, Cang-rư-sân-cơ đi thẳng đến 7 đứa trẻ Ama Thượng, chính xác là đến thằng bé mặt sẹo. Bọn trẻ đồng thanh gọi: “Cang-rư-sân-cơ!” Cang-rư-sân-cơ vẫy đuôi với bọn trẻ, trừng mắt nhìn mấy người đàn ông cao to đang ấn chặt chúng. Nhưng nó không sủa, thậm chí không nhe nanh ra dọa. Nó biết rõ lúc này không phải lúc đối kháng. 1 nghi thức trang nghiêm sắp được cử hành. 1 ý chí của tập thể loài người sắp được thực hiện, chó (dù là Ngao Tạng to gan lớn mật) không thể cưỡng lại được. Nó hiểu rõ hiện trạng của nó: bị thương và đang đau, không đủ sức để chống lại bất kỳ 1 địch thủ nào nữa. Việc duy nhất nó có thể làm là tìm đến với chủ, chịu chung số phận bị giết, bị chặt tay với chủ. Nó nằm xuống bên cạnh thằng bé mặt sẹo, cùng chủ đối mặt với cái thớt dùng để chặt tay và 2 đao phủ đeo mặt nạ đầu Ngao.
 
Top