Chó lai sói Tiệp - không phải là một trong những loài chó giống như các bạn đã được giới thiệu trên diễn đàn này, chúng không có lịch sử lâu đời hàng trăm năm, chúng không có những chiến công trứ danh được truyền tụng khắp toàn thế giới, những nhà khoa học đã nghiên cứu ra chúng cũng không phải là những người gặt hái được những thành tựu vang dội. Hơn thế nữa, nơi xuất xứ của chúng cũng không phải là một quốc gia được biết đến với nhiều giống chó bản địa. Mẹ của chúng - thiên nhiên hoang dã. Vẻ ngoài của chúng là sói - lông xám dầy, mõm trắng. Chúng cao, nhưng nhanh nhẹn và mạnh mẽ.
Tóm tắt lịch sử phát triển:
Vào năm 1955 CHLB Xô Viết Tiệp Khắc tiến hành dự án thí nghiệm sinh học lai giống giữa chó săn cừu Đức và chó sói vùng Karpat. Tiến trình thí nghiệm cho lai giữa chó đực với sói cái, và sói đực với chó cái. Chỉ những cá thể vượt trội mới được giữ lại để tạo nên nguồn gene bền vững sau này. Vào năm 1965, sau khi kết thúc chương trình, các nhà khoa học Tiệp Khắc đã giới thiệu rộng rãi đề tài nghiên cứu này và công bố đã lai tạo thành công ra giống chó mới. Tuy nhiên cũng phải sau đó gần 20 năm,giống chó này mới được hiệp hội thú y quốc gia Tiệp Khắc chính thức công nhận.
Khởi nguồn nào cho giống chó này? Ai là tác giả của ý tưởng cho lai tạo giữa chó chăn cừu Đức và chó sói? Để trả lời câu hỏi này ta cần quay về thập kỷ 50, khi kỹ sư Karel Hartl được trung tâm nghiên cứu chó giống Libeiovise phân công làm việc trên nền tảng ý tưởng này. Lần thử nghiệm thất bại đầu tiên là cuộc giao phối giữa sói cái "Brita" với môt con chó săn cừu Đức. Sau khi thay đổi chó đực, tình hình có vẻ khả quan hơn, và cuộc "truy hoan" thành công đầu tiên được người ta ghi vào sổ sách là giữa Brita với chó đực Cezar z Brezoveho Haje ngày 26 tháng 5 năm 1958(phả hệ thứ nhất của chó lai sói Tiệp).
Sự khác nhau về giải phẫu học và sinh lý học giữa đàn con lai đầu tiên với cha mẹ của chúng được đưa ra mổ xẻ chi tiết. Chúng được kiểm tra khả năng tiếp thu, độ vận động, sự dẻo dai. Biểu hiện của chúng hoàn toàn khác với những con chó săn cừu Đức con khác. Thế hệ lai thứ hai được thử nghiệm tách lẻ hoàn toàn và sau đó cho phép chúng tự chọn bạn tình. Và đến đời F3 và F4, các nhà khoa học cho chúng được thử huấn luyện những nghiệp vụ đơn giản của quân đội.
Sói cái Brita còn được cho giao phối với chó đực Kurt z Vaclavky (phả hệ thứ 2 của chó lai sói Tiệp).
Phả hệ thứ 3 được lai tạo tại Séc - đứng đầu là sói đức Argo. Ký hiệu viết tắt "CV" (Cesky Vlcak - chó lai sói Tiệp Khắc) kể từ đó bắt đầu được sử dụng để chỉ những con chó lai từ 3 cây phả hệ này.
Phả hệ thứ nhất, thứ hai:
Phả hệ thứ ba:
Phả hệ thứ tư:
Phả hệ thứ năm:
(Còn nữa)
Tóm tắt lịch sử phát triển:
Vào năm 1955 CHLB Xô Viết Tiệp Khắc tiến hành dự án thí nghiệm sinh học lai giống giữa chó săn cừu Đức và chó sói vùng Karpat. Tiến trình thí nghiệm cho lai giữa chó đực với sói cái, và sói đực với chó cái. Chỉ những cá thể vượt trội mới được giữ lại để tạo nên nguồn gene bền vững sau này. Vào năm 1965, sau khi kết thúc chương trình, các nhà khoa học Tiệp Khắc đã giới thiệu rộng rãi đề tài nghiên cứu này và công bố đã lai tạo thành công ra giống chó mới. Tuy nhiên cũng phải sau đó gần 20 năm,giống chó này mới được hiệp hội thú y quốc gia Tiệp Khắc chính thức công nhận.
История:

Khởi nguồn nào cho giống chó này? Ai là tác giả của ý tưởng cho lai tạo giữa chó chăn cừu Đức và chó sói? Để trả lời câu hỏi này ta cần quay về thập kỷ 50, khi kỹ sư Karel Hartl được trung tâm nghiên cứu chó giống Libeiovise phân công làm việc trên nền tảng ý tưởng này. Lần thử nghiệm thất bại đầu tiên là cuộc giao phối giữa sói cái "Brita" với môt con chó săn cừu Đức. Sau khi thay đổi chó đực, tình hình có vẻ khả quan hơn, và cuộc "truy hoan" thành công đầu tiên được người ta ghi vào sổ sách là giữa Brita với chó đực Cezar z Brezoveho Haje ngày 26 tháng 5 năm 1958(phả hệ thứ nhất của chó lai sói Tiệp).

Sự khác nhau về giải phẫu học và sinh lý học giữa đàn con lai đầu tiên với cha mẹ của chúng được đưa ra mổ xẻ chi tiết. Chúng được kiểm tra khả năng tiếp thu, độ vận động, sự dẻo dai. Biểu hiện của chúng hoàn toàn khác với những con chó săn cừu Đức con khác. Thế hệ lai thứ hai được thử nghiệm tách lẻ hoàn toàn và sau đó cho phép chúng tự chọn bạn tình. Và đến đời F3 và F4, các nhà khoa học cho chúng được thử huấn luyện những nghiệp vụ đơn giản của quân đội.
Sói cái Brita còn được cho giao phối với chó đực Kurt z Vaclavky (phả hệ thứ 2 của chó lai sói Tiệp).
Phả hệ thứ 3 được lai tạo tại Séc - đứng đầu là sói đức Argo. Ký hiệu viết tắt "CV" (Cesky Vlcak - chó lai sói Tiệp Khắc) kể từ đó bắt đầu được sử dụng để chỉ những con chó lai từ 3 cây phả hệ này.

Vào những năm 70, phần lớn những con chó được lai tạo ra đều được gửi đến những trung tâm huấn luyện gần vùng Malaki, trực thuộc đơn vị biên phòng Bratislavsk. Những con phẩm chất tốt được chọn lựa huấn luyện để bảo vệ "vành đai sắt" (biên giới Đông Âu - Tây Âu), đây là một áp lực cực kỳ nặng nề mà trước đây chúng chưa từng trải qua - học tập để trở thành những con chó nghiệp vụ xuất sắc của quân đội Xô Viết Tiệp Khắc. Phó giám đốc trung tâm huấn luyện Malaki, thiếu tá Frantisek Rosik, chủ tịch danh dự câu lạc bộ chó lai sói Tiệp, được nhắc đến như là người đóng góp rất nhiều công sức trong việc huấn luyện - thí nghiệm để phát triển giống chó này.
Con sói thứ 3 được kể đến là Sarik - được tính là con phát triển ra phả hệ thứ 4 của chó lai sói Tiệp. Nó là kết quả của sự giao thoa giữa chó lai đời F3 Xela z Pohranicni straze và chó cái Urta zz Pohranicni straze vào năm 1972.
Đóng góp cuối cùng cho nguồn gene của giống này phải kể đến kết quả lai tạo của sói cái Ledi và chó đực Bojar von Schotterhof, chó con sinh ngày 26 tháng 4 năm 1983. Kazan z Pohranicni straze (F1), sinh ra từ lần lai tạo này, được
sử dụng trực tiếp để cho lai giống với mẹ Ledi của nó (phả hệ thứ 5).
Chó lai sói Tiệp được chính thức công nhận vào ngày 20 tháng 3 năm 1982. Trong khoảng 10 năm (từ 1982 - 1991) sổ sách ghi chép được 1552 con chó con được tạo ra.
Sau khi Xô Viết Tiệp Khắc sụp đổ, không còn thấy nhiều tài liệu về quá trình lai tạo giống chó này - niềm tự hào một thời của nền sinh học Tiệp Khắc.
Con sói thứ 3 được kể đến là Sarik - được tính là con phát triển ra phả hệ thứ 4 của chó lai sói Tiệp. Nó là kết quả của sự giao thoa giữa chó lai đời F3 Xela z Pohranicni straze và chó cái Urta zz Pohranicni straze vào năm 1972.
Đóng góp cuối cùng cho nguồn gene của giống này phải kể đến kết quả lai tạo của sói cái Ledi và chó đực Bojar von Schotterhof, chó con sinh ngày 26 tháng 4 năm 1983. Kazan z Pohranicni straze (F1), sinh ra từ lần lai tạo này, được
sử dụng trực tiếp để cho lai giống với mẹ Ledi của nó (phả hệ thứ 5).
Chó lai sói Tiệp được chính thức công nhận vào ngày 20 tháng 3 năm 1982. Trong khoảng 10 năm (từ 1982 - 1991) sổ sách ghi chép được 1552 con chó con được tạo ra.
Sau khi Xô Viết Tiệp Khắc sụp đổ, không còn thấy nhiều tài liệu về quá trình lai tạo giống chó này - niềm tự hào một thời của nền sinh học Tiệp Khắc.

Phả hệ thứ nhất, thứ hai:

Phả hệ thứ ba:

Phả hệ thứ tư:

Phả hệ thứ năm:

(Còn nữa)